Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 10/11/2018 13:58

送子由使契丹

雲海相望寄此身,
那因遠適更沾巾。
不辭驛騎凌風雪,
要使天驕識鳳麟。
沙漠回看清禁月,
湖山應夢武林春。
單于若問君家世,
莫道中朝第一人。

 

Tống Tử Do sứ Khiết Đan

Vân hải tương vong ký thử thân,
Na nhân viễn thích cánh triêm cân.
Bất từ dịch kỵ lăng phong tuyết,
Yếu sử thiên kiêu thức phụng lân.
Sa mạc hồi khan Thanh cấm nguyệt,
Hồ sơn ứng mộng Vũ lâm xuân.
Thiên vu nhược vấn quân gia thế,
Mạc đạo trung triều đệ nhất nhân.

 

Dịch nghĩa

Người từ biển đông trông sang, người từ mây bắc ngó lại,
Đường xa xôi và tình đẫm mấy lần khăn.
Vượt gió tuyết qua mấy trùng quán trọ,
Cho giặc trời trông rõ mặt phượng lân.
Trăng Thanh cấm trên kia vùng sa mạc,
Trời Vũ lâm in mộng triệu sông hồ.
Thiền vu nếu hỏi gia thế chú,
Đừng nói trong triều đệ nhất nhân.


Năm 1089, Đông Pha lãnh chức Long đồ các học sĩ ra coi Hàng Châu, Tử Do thay ông giữ chức Hàn lâm viện thị độc tại triều. Năm đó, Tử Do đi sứ Khiết Đan. Năm trước, ông được cử đi, nhưng xin từ.

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).