予以事繫禦史台獄獄吏稍見侵,自度不能堪,死獄中,不得一別子由,故作二詩授獄卒梁成,以遺子由其二

柏台霜氣夜淒淒,
風動琅璫月向低。
夢繞雲山心似鹿,
魂飛湯火命如雞。
眼中犀角真吾子,
身後牛衣愧老妻。
百歲神遊定何處,
桐鄉知葬浙江西。

 

Dư dĩ sự hệ Ngự sử đài ngục, ngục lại sảo kiến xâm, tự đạc bất năng kham, tử ngục trung, bất đắc nhất biệt Tử Do, cố tác nhị thi thụ ngục tốt Lương Thành, dĩ di Tử Do kỳ 2

Bách đài sương khí dạ thê thê,
Phong động lang đang nguyệt hướng đê.
Mộng nhiễu vân sơn tâm tự lộc,
Hồn kinh thang hoả mệnh như kê.
Nhãn trung tê giác chân ngô tử,
Thân hậu ngưu y quý lão thê.
Bách tuế thần du hà xứ định,
Đồng Hương tri tráng Chiết Giang tê (tây).

 

Dịch nghĩa

Hơi sương đêm ở Bách đài buồn lạnh lẽo
Vòng xích động leng keng ánh trăng xế tà
Trong mơ về quê hương lòng thấp thỏm không yên
Hồn sợ nước sôi lửa bỏng mạng sống như gà
Mắt nhìn thấy tướng mạo của con cũng không tục
Sau khi chết mặc áo trâu thẹn với vợ già
Khi trăm tuổi thần về đâu là định
Dân Đồng Hương biết táng ta ở tây Chiết Giang


Tử Do tự Tô Triệt, em của Tô Thức. Tác giả làm bài thơ này vào năm Nguyên Phong thứ 2. Tháng hai năm đó, nhóm Hà Chính Thần, Thư Bẩm, Lý Dịch nhặt những câu văn trong biểu chương của Tô Thức, hặc ông là công kích tân pháp, phỉ báng triều đình. Tháng bảy ngự sử đài sai người đến Hồ Châu bắt Tô Thức hạ ngục.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Đêm sương Đài Bách lạnh lùng qua
Vòng xích leng keng ánh nguyệt tà
Mây núi mơ quanh tim tựa dẽ
Nước than hồn sợ mạng như gà
Sừng tê trước mắt mừng con trẻ
Áo nghé sau thân thẹn vợ già
Trăm tuổi thần du đâu chốn định
Đồng Hương Tây Chiết táng mồ ta


tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Bách Đài sương lạnh hơi đêm ra,
Xích động leng keng trăng xế tà.
Mộng nhớ cố hương lòng thấp thỏm,
Hồn than lửa bỏng mạng như gà.
Mắt trông tê giác con ta thật,
Chết mặc áo trâu thẹn vợ già.
Trăm tuổi thần về đâu chốn định,
Chiết Giang dân biết táng mồ ta.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời