侄安節遠來夜坐其一

南來不覺歲崢嶸,
坐撥寒灰聽雨聲。
遮眼文書元不讀,
伴人燈火亦多情。
嗟予潦倒無歸日,
今汝蹉跎已半生。
免使韓公悲世事,
白頭還對短燈檠。

 

Điệt An Tiết viễn lai dạ toạ kỳ 1

Nam lai bất giác tuế tranh vanh,
Toạ bát hàn hôi thính vũ thanh.
Già nhãn văn thư nguyên bất độc,
Bạn nhân đăng hoả diệc đa tình.
Ta dư lạo đảo vô quy nhật,
Kim nhữ tha đà dĩ bán sinh.
Miễn sử Hàn công bi thế sự,
Bạch đầu hoàn đối đoản đăng kềnh.

 

Dịch nghĩa

Từ sang nam, bỗng chốc năm đã chầy heo hút,
Giữa đêm dài ngồi khơi tro lạnh nghe mưa rơi.
Tay che mắt, thơ văn nguyên chẳng đọc,
Bên bóng đèn ánh lửa ấm tình người.
Ta lận đận mấy năm trường lưu lạc,
Cháu bon chen bươn bả nửa đời rồi.
Thế sự đó ông Hàn xưa khỏi khóc,
Đèn vắn chân tóc trắng vẫn chưa thay.


Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời Tống Thần Tông

Tiết đông chí khi đang bị đày ở Hoàng Châu, cháu Đông Pha là An Tiết đến thăm. Ông ra Hoàng Châu đã gần hai năm. Tình cố quận, tình tha hương, cả hai đền mặn mà. Tuổi ông lúc đó gần tròn 46, mà đầu đã bạc. Mùa thu, tóc trắng, đâu đâu cũng đồng vọng âm hưởng tịch liêu. Một già một trẻ, nơi đồi núi xa xăm, sự đời như sóng nước Trường Giang, tháng 9 đã bắt đầu mùa nước lũ, cuối đông sương mù kéo dày trùng điệp. Cái nồng nàn, thắm thiết của hồn thơ, biết đâu là cùng tận? Con chuột đói lần ra trong những đêm vắng. Tạo vật vốn dĩ vô tình, nhưng tuế nguyệt la đà, mây trời chìm nổi, thì trên những triền núi cheo leo, có khi cũng có thể nghe được tiếng đồng vọng mơ hồ của đêm dài heo hút. Đồng vọng đó cũng có thể thấy ở chỗ “năm tháng cheo leo”, hay năm tháng trơ vơ. Nắng buổi chiều trợt dốc dài trên sườn núi, ruổi dài giữa cô quạnh mông lung. Cái đó như là tâm sự được ký thác bên kia bờ viễn mộng, tâm sự riêng biệt của năm tháng, hay của cánh chim hồng, bay ngang qua dòng thác thời gian đổ xuống ào ạt?

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).