Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 11/11/2018 12:08

東坡八首其二

荒田雖浪莽,
高庳各有適。
下隰種秔稌,
東原蒔棗栗。
江南有蜀士,
桑果已許乞。
好竹不難栽,
但恐鞭橫逸。
仍須卜佳處,
規以安我室。
家僮燒枯草,
走報暗井出。
一飽未敢期,
瓢飲已可必。

 

Đông Pha bát thủ kỳ 2

Hoang điền tuy lãng mãng,
Cao tì các hữu thích.
Hạ thấp chủng canh thuật,
Đông nguyên thì táo lật.
Giang Nam hữu Thục sĩ,
Tang quả dĩ hứa khất.
Hảo trúc bất nam tài,
Đản khủng tiên hoành dật.

Nhưng tu bốc giai xứ,
Quy dĩ an ngã thất.
Gia đồng thiêu khô thảo,
Tẩu báo ám tỉnh xuất.
Nhất bão vị cảm kỳ,
Biều ẩm dĩ khả tất.

 

Dịch nghĩa

Ruộng hoang dù cỏ dại mọc đầy,
Nhưng cũng cất được căn nhà thấp.
Chỗ trũng thấp thì trồng lúa canh, lúa thuật,
Đất bằng ở mé đông trồng rau thì là, trồng táo, trồng dẻ.
Đất Giang Nam bấy giờ có kẻ quê ở đất Thục (tức là ông),
Đã yên phận trồng dâu trồng trái.
Tre tốt trồng không khó,
Nhưng sợ người ta chặt làm roi.
Nay đã chọn được chỗ ở tốt,
Việc nhà đã thu xếp ngăn nắp rồi.
Sắp trẻ đốt cỏ khô,
Chạy tới báo tin có mạch nước ngầm.
Nhưng một bữa no, không mong gì hơn nữa,
Uống nước trong cũng đã đủ lắm.


Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời Tống Thần Tông

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).