22.50
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
Thời kỳ: Tấn
11 bài trả lời: 6 bản dịch, 5 thảo luận
7 người thích
Từ khoá: chờ đợi (70) ly biệt (48)

Đăng bởi Vanachi vào 04/07/2005 19:43, đã sửa 8 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 10/10/2009 23:48

織錦回文

君承皇詔安邊戍,
送君送別河橋路。
含悲掩淚贈君言,
莫忘恩情便長去。

何期一去音信斷,
遣妾屏幃春不暖。
璚瑤階下碧苔生,
珊瑚帳裏紅塵滿。

此時到別每驚魂,
將心何托更逢君。
一心願作滄海月,
一心願作嶺頭雲。

嶺雲歲歲逢君面,
海月年年照得偏。
飛來飛去到君旁,
千里萬里遙相見。

迢迢路遠關山隔,
恨君塞外長為客。
去時送別蘆葉黃,
難悟已經柳花白。

百花散亂逢春早,
春意催人向誰道。
垂楊滿地為君攀,
落花滿地無人掃。

庭前春草真芬芳,
花得秦箏向蓋堂。
為君彈得江南曲,
附寄情深到朔方。

朔方迢迢山難越,
萬里音書長斷絕。
銀妝枕上淚沾衣,
金縷羅裳縫皆裂。

三春鴻雁渡江聲,
此時离人斷腸情。
箏弦未斷腸先斷,
怨結先成曲未成。

君今憶妾重如山,
妾亦思君不暫閒。
織將一板獻天子,
願訪而夫及早還。

 

Chức cẩm hồi văn

Quân thừa hoàng chiếu an biên thú,
Tống quân tống biệt hà kiều lộ.
Hàm bi yểm lệ tặng quân ngôn,
Mạc vong ân tình tiện trường khứ.

Hà kỳ nhất khứ âm tín đoạn,
Khiển thiếp bình vi xuân bất noãn.
Quỳnh dao giai hạ bích đài sinh,
San hô trướng lý hồng trần mãn.

Thử thời đạo biệt mỗi kinh hồn,
Tương tâm hà thác cánh phùng quân.
Nhất tâm nguyện tác thương hải nguyệt,
Nhất tâm nguyện tác lĩnh đầu vân.

Lĩnh vân tuế tuế phùng phu diện,
Hải nguyệt niên niên chiếu đắc biên.
Phi lai phi khứ đáo quân bàng,
Thiên lý vạn lý dao tương kiến.

Thiều thiều lộ viễn quan san cách,
Hận quân tái ngoại trường vi khách.
Khứ thời tống biệt lư điệp huỳnh,
Nan ngộ kỷ kinh mai hoa bạch.

Bách hoa tán loạn phùng xuân tảo,
Xuân ý thôi nhân hướng thùy đạo.
Thuỳ dương mãn địa vị quân phan,
Lạc hoa mãn địa vô nhân tảo.

Đình tiền xuân tảo chân phân phương,
Bão đắc Tần tranh hướng họa đường.
Vị quân đàn đắc Giang Nam khúc,
Phụ ký tình thâm đáo sóc phương.

Sóc phương thiều thiều sơn hà việt,
Vạn lý âm thư trường đoạn tuyệt.
Ngân trang chẩm thương lệ triêm y,
Kim lũ la thường hao giai liệt.

Tam xuân hồng nhạn độ giang thinh,
Thử thì ly nhân đoạn trường tình.
Tranh huyền vị đoạn trường tiên đoạn,
Oán kết tiên thành khúc vị thành.

Quân kim ức thiếp trọng như san,
Thiếp diệc tư quân bất tạm nhàn.
Chức tương nhất bản hiến Thiên Tử,
Nguyện phóng nhi phu cập tảo hoàn.

 

Dịch nghĩa

Chàng vâng chiếu vua đi đồn trú nơi biên cương
Tiễn chàng qua cầu, đường xa thăm thẳm
Ngậm sầu, ngăn lệ, trao chàng mấy lời
Đừng quên tình này dù xa cách

Một ra đi tin tức đành vắng bặt
Phòng không của thiếp xuân về chẳng ấm
Dưới thềm hoa rêu đã phủ xanh
San hô màng trướng đầy bụi bám

Buổi ấy chia tay lòng khiếp hãi nhường bao
Lo làm sao cho gặp lại được chàng
Xin được làm ánh trăng nơi biển xanh
Xin được làm mây lạnh trên đầu núi

Mây lạnh năm năm còn thấy được mặt chàng
Trăng biển năm năm còn soi dấu biên cương (nơi chàng ở)
Bay đi bay lại còn đến được gần chàng
Dẫu ngàn vạn dặm vẫn có thể thấy nhau

Thăm thẳm đường xa, núi non cách trở
Giận chàng còn mãi làm người khách nơi biên tái
Buổi ấy xa nhau lá hoa lau úa vàng
Ai tin bây giờ hoa mai đã trắng xóa

Hoa nghiêng ngả gặp mùa xuân sớm
Nỗi niềm xuân xui khó nói ra
Thùy dương rụng lá cũng vì chàng
Hoa rơi đầy đất ai người quét

Trước sân cỏ xuân tỏa mùi thơm
Ôm đàn Tần Tranh ra phòng họa
Vì chàng đàn trọn khúc Giang Nam
Gửi gắm tình này về phương Bắc

Phương Bắc sông núi xa xôi thăm thẳm
Vạn dặm tin chàng dứt hẳn rồi
Vật trang sức trên gối, nước mắt em thấm áo
Áo thêu vàng, lụa vẽ hoa cũng từng chịu ủ ê

Ba xuân hồng nhạn kêu qua sông
Cũng giống nỗi đau đứt ruột của một người xa cách
Đàn chưa dứt mà lòng dứt trước
Oán kết rồi, đàn vẫn chưa rồi

Chàng nhớ em tình nặng như núi non
Em cũng nhớ chàng chẳng lúc nào khuây khỏa
Dệt bức gấm này cúi dâng Thiên tử
Xin cho chồng con được sớm trở về.


Bản dịch nghĩa của Tô Kiều Ngân.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (11 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Quang

Chàng vâng chiếu ra yên cõi ngoại,
Thiếp đưa chàng tới lối cầu sông.
Ngậm sầu gạt lệ nhắn lòng,
Chớ tham chốn khác mà vong tình này.

Trông tin tức tới nay thăm thẳm,
Để buồng hương chẳng ấm hơi xuân.
Từ ngày đôi ngả cách phân,
Màn dần bụi bám, thềm dần rêu phong.

Tưởng ly biệt nỗi lòng kinh sợ,
Thiếp với chàng bao thuở gặp nhau.
Nguyện làm trăng giữa biển sâu,
Nguyện làm mây phủ trên đầu non cao.

Trăng giữa biển năm nào cũng thấy,
Mây đầu non đường mấy cũng thông.
Bay qua bay lại bên chồng,
Dầu ngàn muôn dặm xa trông như gần.

Quan san ấy mấy lần trở cách,
Hiềm nỗi chàng làm khách rất lâu.
Chàng đi mới ố bông lau,
Mà nay mấy độ trắng màu hoa mai.

Hoa trăm thức xuân vui hớn hở,
Xuân giục người than thở với ai.
Dương kia đủ những tơ dài,
Hoa kia rã cánh không người quét cho.

Sân xuân sớm thơm tho trăm thức,
Chốn hoạ đường lực bận đàn tranh.
Giang Nam năm khúc rành rành,
Mượn đầu năm mong gởi tình sóc phương.

Sóc phương ấy đôi đường diệu vợi,
Âm thư này nhắn gởi khôn thông,
Gối riêng nước mắt tuôn dòng,
Xiêm thêu áo vẽ lâu cùng mục tan.

Ba xuân tới tiếng nhàn nhắn gởi,
Xuân giục người bối rối như tơ.
Năm dây còn đón sờ sờ;
Buồn đà đứt ruột, gảy chưa rồi đàn.

Chàng thương thiếp còn hơn núi nặng,
Thiếp nhớ chàng tình chẳng kém thua.
Dệt đem bức gấm dâng vua,
Xét lòng dạ thiếp tha cho chồng về.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Khi vâng chiếu chỉ ra đề cờ,
Từ chàng đi, thiếp bặt tin đợi chờ.
Hồng nhạn kêu thu sông Hớn bơ vơ.
Áo não nùng khiến dạ ngẩn ngơ.
Trách bấy ông Tơ gieo chi mối sầu như tóc tơ.
Nghĩ mấy lời từ hồi ban sơ.
Nhớ những khi thiếp nguyện trăm năm tam tùng thờ.
Chàng mần răng ý lẳng lơ.
Chân đi thăm thẳm, mắt ngóng luống nhớ cách núi ải, biết chừ trao thơ
Má phấn duyên phai lạt, hồng nhan trông đợi chờ
Trướng lý để bụi trần nhơ.
Kìa cờ ai, nghe tiếng trống vẫn bóng xa xa
Hay là chiếu triệu chồng ta.
Chốn giang biên, chàng ôi có hay chăng là
Để lụy tương tư này như chút phận Hằng Nga.
Đêm đông quạnh quẽ, tiếng quyên hòa
Gìn lòng son nỡ để cho trăng già
Luông tuồng bao nỡ vắng bặt nhạn tin qua.
Hay là ong bướm đã say đắm mê hoa,
Chim ô thước qua sông Ngân thường,
Nỡ nào để cho loan phụng Sâm Thương.
Chẳng biết no nao cá nước hội một trường,
Kẻo nặng nề hai chữ uyên ương
Ong bướm dẫu say mên hoa hường,
Cũng đoái tưởng chút nghĩa tào khương.
Chim bao nài bay qua cho tỏ tường.
Để trông đợi tháng ngày thương.
Trông tin chàng, đêm nằm mơ màng,
Tỉnh giấc hòe trằn trọc thở than.
Năm canh sầu riêng cho bạn vàng,
Phận làm trai hiếu nghĩa trung cang.
Bệ ngọc trên báu kiếm sắc phán.
Chốn giang biên ra khử trừ đảng gian.
Nước noan xa cách muôn dặm, da người bọc mình chàng.
Tuyết sương lạnh nơi chốn Đồng quan
Chàng trừ mô ra giai đấi khởi ngụy bang,
Cho rồi, đặng trở về Trường An.
Kẻo để tương tư này mày xanh sầu võ vàng.
Soi đài gương luống thẹn hồng nhan.
Châu rơi lã chã lệ tuông đôi hàng,
Hiềm vì ai xui duyên nợ lỡ làng.
Ngàn trùng xa cách như khách ở ngoại bang.
Bao nỡ bỏ cái nghĩa Ngưu lang,
Thuở ra đi lau lá vàng.
Bây chừ đã trắng mai rỡ ràng.
Cung quế xơ rơ bóng nguyệt đã tàn.
Ơn kia chưa trả oán nọ liền mang.
Nghe tiếng dế năm canh mơ màng,
Ngỡ tạc ngựa chàng đã hồi bang.
Bởi duyên cớ nào bạc đen lòng phụ phàng.
Để gió thảm mưa sầu khan.
Chẳng biết no nao yên gót trở về
Trên ngai vàng bạc thẻ bêu kia.
Răng rứa bạn niềm tây nhớ nghĩa, nhớ nghĩa
Mây bay khói tỏa in cờ rìa,
Trống trường thành giục điểm canh khuya.
Bâng khuâng nhớ chàng như nhạn chít lìa.
Thiếp lạy ông Trời: chớ có phân chia.
Từ chàng ra chốn cung đao,
Thiếp trông tin chàng tựa cá trông sao.
Ôm gối phụng chờ trông áo não, áo não ...
Sao quên lời núi hẹn sông giao.
Ai đi lấp thảm cho khuây má đào
Tương tư này rằng thấu cung cao.
Ơn trên tha về đặng tỏ nỗi âm hao.
Hiệp một nhà mới phỉ ước ao.


(Bản dịch này được viết theo điệu Nam Ai).
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Ngô Thế Vinh

Chàng vâng chiếu ra ngoài biên thú,
Thiếp đưa chàng kiều lộ xa xa,
Mấy lời tặng những châu sa,
Tình ân ái ấy biết là nhớ không?

Sao một phút tin hồng văng vẳng?
Chốn chinh vi xuân chẳng ấm nồng,
Dưới thềm lỗ chỗ rêu phong,
Trong màn ngang dọc bụi hồng sương che.

Khi tống biệt hồn kia kinh hãi,
Biết làm sao cho gặp lại cùng,
Ước gì như nguyệt bể đông,
Ước gì như thể mây hồng đầu non!

Mây non nọ may còn một thấy,
Trăng bể kia soi dậy một phương,
Những mong lại được gặp chàng,
Dẫu nghìn muôn dặm rõ đường tương thân.

Đường thăm thẳm mấy lần xa cách,
Giận chàng còn làm khách ải quan,
Ngày đi lư diệp mới vàng,
Bây giờ đã mấy mai tàn trắng bông.

Mai tán loạn gặp cùng xuân mới,
Nỗi xuân riêng khôn nói cho ra,
Vì chàng nên lá dương tà,
Hoa rơi man mác ai là tảo nhân?

Trước sân những cỏ xuân thơm nức,
Ôm đàn tranh ra trước hoạ đường,
Khúc Giang Nam gảy vì chàng,
Đem tình cho đến sóc phương cõi ngoài.

Ngoài phương sóc xa xôi thăm thẳm,
Bức âm thư nghìn dặm thấy đâu,
Pha phôi áo lệ gối sầu,
Dưới thềm hoa lá cùng mầu nở ra.

Qua sông ấy tiếng gà xao xác,
Nỗi li nhân trường đoạn khác đâu,
Đàn chưa rối ruột đã sầu,
Cho nên một khúc cung sau chưa tròn.

Chàng nhớ thiếp như non tình nặng,
Thiếp nhớ chàng cũng chẳng tạm khuây;
Hồi văn một bức thư này,
Nhi phu xin sớm kíp ngày khởi quy!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hồ Đắc Duy

Chàng lãnh chiếu dẹp yên ngoài cõi
Tiễn đưa người tới lối cầu sông
Ngậm buồn ngăn lệ nhủ cùng
Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau

Từ dạo ấy tin đâu vắng vẻ
Để phòng the lạnh lẽo đêm xuân
Trước thềm rêu phủ xanh dần
Trong màn bụi bám mấy lần nào hay

Buổi chia tay lòng đầy kinh hãi
Biết làm sao gặp lại chàng ơi
Xin làm biển nọ trăng soi
Xin làm mây lạnh trên đoài non xa

Mây lạnh đó năm qua còn thấy
Biễn năm năm trăng trẩy biên cương
Tới lui trăng vẫn bên chàng
Nghìn trùng vạn dặm có nhường thấy chăng

Đường thăm thẳm quan sơn cách trở
Hận vì chàng sao ở quá lâu
Ngày đi vàng cánh hoa lau
Mà chừ trắng xoá cả màu bạch mai

Hoa nghiêng ngả gặp ngày xuân sớm
Nỗi niềm xuân biết ngỏ cùng ai
Thuỳ dương lá rụng chàng ơi
Hoa rơi ngập đất ai người quét đây

Trước sân đầy cỏ xuân thơm ngát
Chốn hoạ đường ôm chiếc Tần Tranh
Giang Nam dạo khúc vì chàng
Gởi tình em đến Bắc Phương cõi ngoài

Nơi phương Bắc xa xôi vời vợi
Vạn dặm đường tin tới hay không
Gối khăn lệ đẫm từng dòng
Áo vàng lụa vẽ hoa cùng rưng rưng

Ba xuân đến qua sông tiếng nhạn
Khác chi người xa bạn người ơi
Ruột đứt đàn vẫn còn hoài
Đàn chưa trọn khúc đau nay đã thành

Chàng nhớ thiếp nặng tình như núi
Thiếp nhớ chàng khôn nỗi nào khuây
Cúi dâng một bức gấm này
Vua tha chàng sớm được quay trở về.


Khi nghiên cứu cấu trúc của bài Chức Cẩm Hồi Văn mới thấy hết cái cách chơi của người xưa quả thực là tuyệt diệu, một lối chơi thật tao nhã có một không hai mà đã trên 2000 năm nay cũng chưa có kẻ hậu sinh nào giải mã dược cái bí quyết, cái bí mật cũng như bức thông diệp này gởi đến cho vua mà khi nhà vua cầm bức gấm lên thì chỉ thấy trước mắt mình chỉ có một chữ THIÊN TỬ nằm ở trung tâm vũ trụ, tất cả các chữ còn lại đều đọc được hết, nhưng toàn thể 280 chữ ấy nói cái gì? thì Hoàng đế và cả quần thần học sĩ uyên bác cũng chỉ nhìn nó như một lời thách đố, sức mạnh, vũ lực, gươm giáo, quân sỉ và tiền bạc, chức tước đã phải ngậm ngùi trước một câu đố hiễm hóc của một người đàn bà thông minh là Tô Huệ này.

Một bản thông điệp có trong tay, mà không ai giãi mã được, trong kết cấu của bài Chức Cẩm Hồi Văn có ẩn chứa một điều bí mật ở những con chữ to nằm trong 32 ô. Nếu là Dụng Hồi văn thể kiêm liên hoàn, với 280 chữ thành 40 câu thơ, mỗi câu 7 chữ thì có thể đọc lên đến 1600 bài thơ và nếu là bình trắc lục vận độc thành thất ngôn, ngũ ngôn hay theo các con chữ 280 mà xếp thì có thể lên đến cả chục triệu bài thơ, một chương trình cho máy vi tính có thể xử lý để in ra mấy chục triệu bài Chức Cẩm Hồi Văn đó.

Trong lịch sử chơi chữ của văn học Việt Nam thì khó có ai qua mặt được vua Thiệu Trị, ông để lại cho đời hai câu đố: Vũ Trung Sơn Thuỷ (Cảnh Trong Mưa), Phước Viên Văn Hội Lương Dạ Mạn Ngâm (đêm thơ ở Phước Viên). Đó là một trận đồ bát quái có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú được khảm xà cừ. Trên câu đố có ghi lời dặn cách đọc bên cạnh bài thơ. Theo chỉ dẫn của Vua đọc theo hai lối hồi văn kiêm liên hoàn, theo thể thất và ngũ ngôn sẽ được 64 bài, sau này chúng tôi có làm được bài thơ Trăng Đêm có thể đọc được 96 bài và gần đây có một ông tú ở Quang Trung, Bình Định lại có một bài thất ngôn bát cú đọc được 128 bài.

Đây bài dịch thơ này cũng là một cách chơi, một cách chơi phải được tôn trọng: các chữ và nghĩa gần giống, sát nghĩa nhất và bằng chữ Nôm trong 33 con chữ lớn, đặt biệt là chữ VUA nằm ở vị trí số 273 chữ VỀ nằm ở vi trí 280, xin chép ra để các bạn cùng chơi cho vui trong lúc trà dư tửu hậu.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Minh Ký

Chàng vâng hoàng chiếu thú an biên,
Đưa tới Hà kiều rẻ thảm riêng,
Ngậm thở ngùi than ngừng giọt luỵ,
Ân tình xa cách chớ hề quên.

Đi ra tin đứt có dè sao!
Màn trướng đầu xuân ấm đặng nào!
Dưới bụi quỳnh diêu rêu biếc láng,
San hô trong trướng bụi hồng bao.

Nỗi lìa thuở ấy bắt kinh hoàng,
Đem giũ lòng đâu gặp lại chàng;
Lòng ước làm trăng ngoài biển cả,
Hoặc làm mây nước chói cao san.

Mây móc hàng năm thấy mặt chồng,
Hàng năm trăng biển giọi soi cùng,
Bay đi bay lại cho gần được,
Muôn dặm thấy nhau kẻo đợi trông.

Đường sá vơi vơi cách trở thay!
Hờn chàng ngoài ải ở lâu ngày;
Thuở đi đưa đó lau vàng lá,
Ai ngỡ hoa mai nở bấy chầy.

Trăm hoa rộn rực sớm chào xuân,
Ai đó mà xuân giục kẻ than,
Đầy đất dương sà vì đó vén,
Bông rời không kẻ quét đầy đàng.

Thiệt thơm xuân sớm lối ngoài vườn,
Ôm lấy tần tranh tới hoa đường.
Ngâm khúc Giang nam vì đó khảy,
Tình sâu xin gửi thấu lòng chàng.

Bắc phương hiểm trở vượt non sông,
Muôn dặm non từ dứt nẻo thông,
Trấp bạc gối đầu dầm áo luỵ,
Chữ vàng xiêm giẻ thảy xười bông.

Ba xuân hồng nhạn tiếng qua sông,
Ấy đó người lìa đứt ruột trông,
Chửa đứt dây đờn lòng đã đứt,
Đã xong mối thảm, khúc chưa xong.

Chàng nay nhớ thiếp nặng bằng non,
Thiếp cũng nhớ chàng mỗi phút luôn,
Một bổn dệt đem dâng cúng chúa,
Cầu tha chồng thiếp sớm về cùng.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Hà Thượng Nhân

Chàng vâng chiếu ra ngoài quan ải
Thiếp đưa chàng ra bãi Hà Giang
Ngậm sầu nuốt lệ gửi chàng:
"Dù xa xôi mặt xin đừng quên nhau"
Sao từ đó tin đâu chẳng thấy ?
Chốn buồng the lạnh bấy hơi sương
Dưới thềm rêu biếc đầy sân
Bụi hồng hoen ố bức màn vì đâu ?
Nghĩ ly biệt càng đau, càng sợ
Biết làm sao gặp gỡ nhau đây ?
Làm trăng giữa biển vơi đầy
Nguyện xin cho được làm mây đầu ghềnh
Mây đầu ghềnh chàng nhìn sẽ gặp
Trăng giữa vời chiếu khắp gần xa
Bên chàng năm tháng lân la
Mây kia trăng nọ như là cố nhân
Ðường thăm thẳm quan san cách trở
Chàng quanh năm đó ở biên khu
Lúc đi mới úa vi lô
Chợt đâu mai trắng bên bờ mấy phen
Gặp Xuân tới bông chen chúc nở
Mà riêng mình than thở cùng ai ?
Vì chàng vin nhánh liễu đài
Hoa rơi đầy đất ai người quét cho ?
Xuân bát ngát thơm tho trước cửa
Ôm đàn tranh lần lữa lên giây
Giang Nam, khúc dại, khúc ngây
Nhớ nhau thiếp gửi khúc này cho nhau
Trời phương Bắc xiết bao diệu vợi
Xa muôn trùng thư gửi ai đưa ?
Gối loan nước mắt như mưa
Xiêm thêu, áo vẻ, bằng thừa ai mang ?
Chim hồng nhạn bay ngang mấy độ
Kẻ xa nhau vò võ u tình
Oán thành, khúc hát chưa thành
Dây đàn chưa đứt ruột mình đã tươm!
Chàng nhớ thiếp nặng còn hơn núi
Thiếp nhớ chàng sầu tủi triền miên
Dệt thành khúc gấm dâng lên
Ngửa trông lênh thánh mà xin chồng về...

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Góp ý về cách dịch đầu bài “Chức cẩm hồi văn“

Chữ “hồi“ không có nghĩa là “trở về“, mặc dù bài thơ đã có tác dụng làm cho người chồng được trở về.
1) Trong Thành ngữ điển tích từ điển ( Diên Hương, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp,
1992), tác giả giải thích “Chức cẩm hồi văn“ là “Dệt bài văn lộn quanh trên gấm“
2) Trong Nguyễn Trải toàn tập, , phần ghi chú cho Dư địa chí, các ông Đào Duy Anh, Phan Văn Tiếp viết: “…. Tô Huệ nhớ chồng, dệt gấm thành bài thơ để tặng chồng,
đọc nó phải quay đi quay lại quanh co …“
3)Vua Thiệu Trị có hai bài thơ “Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm“  và “Vũ trung sơn thủy“ , mỗi bài trình bày gần giống như hình bát quái. Vua ghi rõ cách đọc là: “dụng hồi văn thể kiêm liên hoàn“.
    Tóm lại, có lẽ nên dịch nhan đề bài thơ là “Dệt bài văn lộn quanh trên gấm“

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Tiêu đề

Vâng, cách dịch tiêu đề ở trên đúng là sai thật, cháu sẽ sửa lại.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nhận xét bản dịch.

Theo tôi, với một số bản dịch bài thơ "Tô Huệ chức cẩm hồi văn" mà tôi đã đọc, thì chưa có bản dịch nào hay vượt lên trên bản dịch của Tiến sĩ Ngô Thế Vinh (1802 - 1856, quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân, nay là huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Đây là một bản dịch với việc sử dụng Tiếng Việt (cách đây 200 năm) một cách nhuần nhuyễn, rất tự nhiên, không gượng gạo, gò ép, đọc lên lại gợi nhớ Chinh phụ ngâm xưa vậy!

LNg.BXL.

LNg.BXL.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nhận xét bản dịch.

Theo tôi, bản dịch bài thơ "Chức cẩm hồi văn" của Tô Huệ, do Tiến sĩ Ngô Thế Vinh (1802 - 1856, quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân, nay là huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định) dịch, là bản dịch hay hơn cả, bở lời thơ dịch tự nhiên, nhuần nhuyễn, không gượng ép; đọc lên lại gợi ta nhớ đến bản dịch "Chinh phụ ngâm" vậy!

LNg.BXL.

LNg.BXL.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (11 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối