Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 18/12/2006 07:49, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 18/12/2006 07:51

己亥歲(僖宗廣明元年)其一

澤國江山入戰圖,
生民何計樂樵蘇。
憑君莫話封侯事,
一將功成萬骨枯。

 

Kỷ Hợi tuế (Hy Tông Quảng Minh niên) kỳ 1

Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ,
Sinh dân hà kế lạc tiều tô.
Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,
Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

 

Dịch nghĩa

Xứ có nhiều sông hồ rơi vào cơn chiến loạn,
Dân đen làm sao có thể yên vui sinh sống?
Các ông đừng có nói về chuyện phong hầu nữa,
Vì một tướng vinh danh thì có vạn xương khô vì loạn lạc.


Bài thơ này được viết năm đầu Quảng Minh (880), tức sau năm Kỷ Hợi một năm. Năm 879, vua Hy Tông lên ngôi được 6 năm nhưng chỉ là hư vị, quyền lực nằm gọn trong tay bọn hoạn quan. Hoàng Sào chính thức lãnh đạo hơn mười vạn quân khởi nghĩa, chiếm 15 châu ở Hà Nam. Tiết độ sứ Hà Nam là Cao Biền điều quân chiếm lại, sinh linh điêu đứng trong loạn ly.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (9 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của phanlang @www.tvvn.org

Chiến tranh lan khắp cõi Giang Nam,
Ai người tìm được chốn thanh nhàn.
Dù chuyện công hầu anh không nói,
Một tướng đánh thành vạn xác tan.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Tiểu Sử Tào Tùng

Tào Tùng , tự Mộng Trưng, quê Thư Châu(An Huy) lúc trẻ ở Tây Sơn, Hồng Châu, sau nương tựa Thứ sử Kiến Châu Lý Tần.Lý chết, Tào lưu lạc giang hồ. Năm Quang Hoà thứ tư đời Đường Chiêu Tông, Tào đỗ Tiến sỹ.Nhà Vua lúc ấy vừa bình xong nội loạn, rất vui mở khoa thi lấy tân Tiến sỹ, đã đặc cách cho Tào Tùng và ba người nữa làm Hiệu Thư Lang (trong Bí thư sảnh-cấp bậc"lang trung"(như cỡ vụ trưởng bây giờ)làm công việc trứ thuật, soạn văn bản cho nhà Vua).

Thơ Tào Tùng là lối thơ "lữ du" , phong cách theo thơ Giả Đảo, ý cảnh thâm u, hay ở chỗ "thôi xao" luyện câu, chọn chữ. Tào Tùng thi tập 3 quyển.Tào Tùng cũng giống Thôi Hiệu(nhưng ở dưới một tầm thuộc diện viết không ít nhưng chỉ có một bài tuyệt tác để đời).Tương truyền đại thi hào Lý Bạch đi chơi Vũ Xương lên lầu Hoàng Hạc xem thấy bài thơ của Thôi Hiệu bèn cầm bút đề vào vách hai câu:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

(Trước mắt có cảnh không tả được
Vì có thơ Thôi Hiệu ở trên đầu)

Với Tào Tùng đó là bài thơ "Kỷ Hợi Tuế".Nguyễn Khôi xin dịch như sau:

Năm Kỷ Hợi

Giang Nam cuộc chiến đã bùng
Dân đen nào biết đến vùng nào yên?
"Phong hầu" thôi, chớ rùm beng
Một anh nên Tướng, vạn tên rơi đầu.

Chú thích:
Kỷ Hợi Tuế (879) Trấn Hải Tiết Độ Sứ là Cao Biền (đã từng sang Giao Chỉ-An Nam ta dẹp quân Nam chiếu, xây thành Đại La, sau là Thăng Long-Hà Nội về được Vua Đường phong là Bột Hải Quận Vương thống lĩnh cả một vùng Chiết Giang-Giang Nam(xưa là Trạch Quốc).Cao Biền đã cầm quân giết hại tàn khốc quân khởi nghĩa Hoàng Sào...
Bài thơ của Tào Tùng là vịnh sự việc này.
Tiều Tô: là tiều phu, người kiếm cỏ chỉ nơi yên hàn.
Bằng quân..."Xin anh chớ nói chuyện phong hầu" bởi vì điều đó thật đáng sợ đó là thứ "giãi thây trăm họ làm công một người" - Đó là câu thơ cảnh báo"vạn cốt khô" là tội ác của chiến tranh.Chữ "cốt" là nhỡn tự"chữ mắt" thật rợn người.
Năm 2000, nhân viếng "Nghĩa trang Trường Sơn" Nguyễn Khôi có bài thơ cảm khái như sau:

Những bia mộ không tên - chiến sỹ vô danh
Người đã thăng quân hàm cho các Tướng
Máu đã đổ không có bao giờ uổng
Cho đất trời Quảng Trị nhuốm màu xanh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của mailang

Non nước miền nam, thảy chiến trường,
Người dân nào cách sống nhàn lương.
Bên ai chớ nhắc phong hầu nữa,
Một kẻ phong hầu, vạn nắm xương.

14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Cao Biền , Hoàng Sào

Khi Hoàng Sào tiến binh vây Trường An , Đường Hy Tông nhiều lần cho gọi Cao Biền về cứu viện , nhưng
Cao Biền không đem quân về  . Lúc đó Cao Biền đang giữ Dương Châu với hơn 10 vạn quân trong tay , vẫn
không dám ra quân vì sợ uy thế của Hoàng Sào . Cao Biền tin vào thuật sĩ , cho những thuật sĩ như
Lữ Dụng Chi 呂用之, Trương Thủ Nhất 張守一  giữ những chức vụ quan trọng , độc quyền chuyên chế làm
quân tướng bất mãn . Cuối cùng Cao Biền bị các tướng sĩ bắt giết .

http://zh.wikipedia.org/wiki/%E9%AB%98%E9%AA%88

http://www.hudong.com/wiki/%E9%AB%98%E9%AA%88

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cao Tự Thanh

Non nước can qua lửa ngút trời,
Dân đen khó nỗi sống trên đời.
Cậy ông bỏ giúp lòng khanh tướng,
Một tướng nêu công chết vạn người.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tiêu Diêu

Thuở non nước nổi cơn gió bụi
Hết ngày vui nhặt củi, hái rau
Trách ai ham cái phong hầu
Một quan được việc vạn đầu đen rơi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của MC

Giang Nam chiến sự đã lan tràn
Hỏi mấy ai kia được sống nhàn
Khanh tướng công hầu anh có biết
Công thành một tướng vạn thây tan.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Xứ sông hồ rơi vào chiến loạn
Dân đen nào yên ổn được đâu
Xin đừng nói chuyện phong hầu
Tướng thành công, vạn đầu lâu khô rồi

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Trung Hậu

Từ thuở giang sơn lửa ngút trời
Người dân vui sống được bao thời
Xin đừng nói chuyện phong hầu nữa
Một tướng thành danh vạn xác phơi

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời