Chưa có đánh giá nào
3 bài trả lời: 1 bản dịch, 2 thảo luận

Đăng bởi bruce lee vào 01/03/2008 05:40, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 06/03/2009 05:30

Jacquemard et Julia

Jadis l'herbe, à l'heure où les routes de la terre s'accordaient dans leur déclin, élevait tendrement ses tiges et allumait ses clartés. Les cavaliers du jour naissaient au regard de leur amour et les châteaux de leurs bien-aimées comptaient autant de fenêtres que l'abime porte d'orages légers.

Jadis l’herbe connaissait mille devises qui ne se contrariaient pas. Elle était la providence des visages baignés de larmes. Elle incantait les animaux, donnait asile à l'erreur. Son étendue était comparable au ciel qui a vaincu la peur du temps et allégé la douleur.

Jadis l'herbe était bonne aux fous et hostile au bourreau. Elle convolait avec le seuil de toujours. Les jeux qu’elle inventait avaient des ailes à leur sourire (jeux absolus et également fugitifs). Elle n'était dure pour aucun de ceux qui perdant leur chemin souhaitent le perdre à jamais.

Jadis l'herbe avait établi que la nuit vaut moins que son pouvoir, que les sources ne compliquent pas à plaisir leur parcours, que la graine qui s’agenouille est déjà à demi dans le bec de l’oiseau. Jadis terre et ciel se haïssaient mais terre et ciel vivaient.

L'inextinguible sécheresse s'écoule. L'homme est un étranger pour l'aurore. Cependant à la poursuite de la vie qui ne peut être encore imaginée, il ya des volontés qui frémissent, des murmures qui vont s'affronter et des enfants sains et saufs qui découvrent.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường

Ngày xưa cỏ, vào giờ mà những con đường của trái đất hợp hoà trong sự tàn tạ, bừng sáng trên những nhận thức và âu yếm cao vươn những cọng lá. Những hiệp sĩ của ngày nẩy sinh trong ánh mắt tình yêu và các toà lâu đài của người tình đếm được ngần ấy khung cửa như vực thẳm cưu mang những giông bão nhẹ nhàng.

Ngày xưa cỏ biết nghìn khẩu hiệu không mâu thuẫn nhau. Cỏ là cứu tinh của những khuôn mặt chan hoà nước mắt. Cỏ réo gọi muông thú, cung cấp chỗ ngụ cho sai lầm. Tầm rộng của cỏ bao la như bầu trời đã thắng nỗi sợ thời gian và giảm thiểu cơn đau.

Ngày xưa cỏ dịu hiền với những người điên và hung bạo với tên đao phủ. Cỏ chung bay với ngưỡng cửa của vĩnh hằng. Những trò chơi bởi cỏ phát minh trổ cánh trên nụ cười của chúng (những trò chơi vô hại và không bền). Cỏ không gay gắt đối với bất một kẻ nào trong số những người lạc hướng còn mong muốn sẽ lạc đường mãi mãi.

Ngày xưa cỏ đã xác định rằng đêm không sáng giá bằng quyền lực của đêm, rằng những con suối không ngoằn ngoèo rắc rối dòng chảy chỉ để mua vui, rằng hạt giống quỳ gối đã chui vào mỏ của chim hết phân nửa rồi. Ngày xưa, đất và trời thù ghét nhau nhưng đất và trời vẫn chung sống.

Sự hạn hán không thể dập tắt đang lan tràn. Con người là kẻ xa lạ đối với bình minh. Tuy nhiên trong sự đuổi bắt đời sống chưa hình dung nổi, có những ý chí đang run rẩy, có những thầm thì sẽ đối đầu và có những đứa trẻ lành mạnh đang phát hiện.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Thêm nguyên tác

Jacquemard et Julia

Jadis l’herbe, à l’heure où les routes de la terre s’accordaient dans leur déclin, élevait tendrement ses tiges et allumait ses clartés.

L'inextinguible sécheresse s'écoule. L'homme est un étranger pour l'aurore. Cependant à la poursuite de la vie qui ne peut être encore imaginée, il y a des volontés qui frémissent, des murmures qui vont s'affronter et des enfants sains et saufs qui découvrent.

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nguyên bản tiếng Pháp

Jacquemard et Julia

Jadis l'herbe, à l'heure où les routes de la terre s'accordaient dans leur déclin, élevait tendrement ses tiges et allumait ses clartés. Les cavaliers du jour naissaient au regard de leur amour et les châteaux de leurs bien-aimées comptaient autant de fenêtres que l'abime porte d'orages légers.

Jadis l’herbe connaissait mille devises qui ne se contrariaient pas. Elle était la providence des visages baignés de larmes. Elle incantait les animaux, donnait asile à l'erreur. Son étendue était comparable au ciel qui a vaincu la peur du temps et allégé la douleur.

Jadis l'herbe était bonne aux fous et hostile au bourreau. Elle convolait avec le seuil de toujours. Les jeux qu’elle inventait avaient des ailes à leur sourire (jeux absolus et également fugitifs). Elle n'était dure pour aucun de ceux qui perdant leur chemin souhaitent le perdre à jamais.

Jadis l'herbe avait établi que la nuit vaut moins que son pouvoir, que les sources ne compliquent pas à plaisir leur parcours, que la graine qui s’agenouille est déjà à demi dans le bec de l’oiseau. Jadis terre et ciel se haïssaient mais terre et ciel vivaient.

L'inextinguible sécheresse s'écoule. L'homme est un étranger pour l'aurore. Cependant à la poursuite de la vie qui ne peut être encore imaginée, il ya des volontés qui frémissent, des murmures qui vont s'affronter et des enfants sains et saufs qui découvrent.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời