Bậc thần thánh danh cao trong cõi,
Một chữ trung thọ với giang san.
Tài kiêm Gia Cát, Phần Dương,
Chẳng qua trong tấm cương thường suy ra.
Cõi Nam tự Đông A về trước,
Biết bao người dẹp nước yên dân.
Song mà kiển kiển vương thần,
Muôn người có một đức Trần Thái sư.
Vốn dòng dõi kim chi ngọc diệp,
Đủ kinh luân khang thế tài cao.
Sơ sinh điềm ứng chiêm bao,
Thanh y giáng thế trời trao anh hùng.
Chí da ngựa, tinh thông thao lược,
Khoác áo rồng bỉ chước Trần kiều.
Gặp cơn quốc bộ hiểm nghèo,
Khăng khăng vẫn giữ một điều tận trung.
Kìa giặc Đát đuổi rong vó ngựa,
Trải ba phen đạp vỡ trùng quan.
Buồn khi chim gáy hoa tàn,
Phất phơ cờ thuý mấy ngàn rừng thông.
Có kẻ giở ra lòng Vệ Luật,
Có người xoay ra mặt Bang Xương.
Giời Nam còn có chủ trương.
Nhị tâm đã thấy những đường bạc đen.
Đang khi ấy cầm quyền thống ngự,
Một Thái sư gìn giữ phong cương.
Ví mà bắt chước Kính Đường,
Bắc vương đã chấp, Nam vương khó gì
Ghét những chuyện thừa nguy mãi quốc,
Gác ngoài tai những chước hàng Nguyên.
Đầu còn thì dạ vẫn bền,
Dạ này Sát Đát chữ in chưa loà.
Mũi gậy rút, rõ ta vô nhị.
Tờ hịch treo, khuyên kẻ đồng cừu.
Tức gan với đứa thiên kiêu,
Thì đem dạ sắt mà liều tay lang.
Khi chước đặt thượng giang phóng thiệt,
Khi kế bày binh trượng đại doanh.
Có khi dử giặc lui binh,
Giồng chông đáy nước để rình thuyền qua.
Chí địch khái, bóng tà kéo lại,
Người tiêm cừu, tay trái đều day.
Mấy phen rồng chọi tuyết bay,
Người đề cờ nghĩa, người bày trung mưu.
Người đan kỵ, nhảy xông cường trận,
Người chích thuyền, chèo sấn cuồng lan.
Ấy ai đánh vỡ thuyền lương
Ấy ai Hàm Tử, Chương Dương đua tài
Ngựa đá cũng bồ hôi chiến trận,
Nước triều cũng nổi giận ba đào.
Gió mây theo ngọn cờ đào,
Thần, nhân hiệp tán giặc nào chẳng tan.
Người Hoan nọ xa ngàn dặm trút,
Chàng Đô kia liều một thân tàn.
Cũng như Ô Mã, Sầm Đoàn,Bá Linh,
Cơ Ngọc vào đoàn tù dây.
Lặng gió ải cỏ cây lại tốt,
Đặt âu vàng non nước đều yên.
Ngẫm cơ liệu địch sang thiêng,
Ngày xưa hai chữ “tặc nhàn” không ngoa.
Quân ta mạnh chẳng qua nhẽ thẳng,
Việc nước xong bởi gắng lòng trinh.
Hiến phù dưới khuyết cáo thành,
Đền ân sơn hải chút tình quyên ai.
Trên thánh đế giáng bài ngọc dụ,
Chiếu đình thần làm sổ quân công.
Tuỳ công nhớn nhỏ gia phong,
Thái sư tên ở đầu dòng gác Yên.
Phong vương tước gia thêm chữ Đại,
Đền sinh từ ngự lại đề bia.
Thiên đình trích đã mãn kỳ,
Tạ từ sớ tấu đan trì một phong.
Đưa xe hạc gió trong giăng đạm,
Ngày hai mươi tháng tám giờ lành.
Muôn năm Vạn Kiếp miếu đình,
Độ dân là phật, hiển linh là thần.
Còn nhật nguyệt trung thành còn giãi,
Còn phong đình nghĩa khái còn vang.
Tuồng chi là giống Phạm Nhan,
Thác chưa biết xấu còn làm nhớp gươm.
Nào những lũ ma vương, lệ quỷ,
Nào những loài mộc suý, thạch tinh.
Liếc trông đã khiếp uy linh,
Lọ cây kiếm thụ, lọ hình đao san.
Cho biết đấng thần tiên xuất thế,
Khắp vùng trời chính khí hạo nhiên.
Ở đời giúp nước an biên,
Quy thần thì vẫn hiên nhiên như còn.
Tiếng khử bạo, gươm mòn vẫn sắc,
Uy trừ hung, chiếu rách còn thiêng.
Tinh trung ủng hộ Nam thiên,
Ắt là quốc thái dân yên đời đời.


Đây là một trong nhiều bài thơ trong tiểu thuyết Hưng Đạo Vương của Phan Kế Bính, in lần đầu năm 1912, nhiều khả năng do Phan Kế Bính tự sáng tác.

Nguồn: Phan Kế Bính, Lê Văn Phúc, Hưng Đạo Vương (Hồi 18), NXB Văn học, 2017 (in theo bản năm 1935 của Đông Kinh ấn quán)