Vọng tiền giá trú Vĩnh Dinh khâm mệnh cảo tế trận vong tướng sĩ lâm đàn cảm tác

Sơn tưu hải phệ giả nhung huy,
Địch khái tề tâm giá tiền thì.
Thiều đệ bang gia thù vị phục,
Phiêu linh hàng trận hiểm hà tì (từ).
Chẩm qua ninh tuận phong cương sự,
Văn khánh thường triền phủ ỷ ti (tư).
Lễ điển khuyến trung long chẩn tuất,
Tiềm linh tư uỷ thử phương chi.

 

Dịch nghĩa

Sườn non bờ bể, vâng mệnh xuất quân,
Lúc xe vua tiến tới, mọi người đồng lòng căm thù giặc.
Xa xôi nước nhà, thù chung chưa giả,
Tan tác mặt trận gian hiểm không từ.
Gối giáo, thà liều chết để bảo vệ đất nước,
Nghe khánh, nhà vua thường tưởng nhớ đến chiến sĩ.
Bày lễ tế tỏ lòng vua thương xót những người trung nghĩa,
Vong linh các ngươi nhận lấy chén rượu thơm này để tự yên ủi.


Bài thơ này làm vào ngày rằm tháng giêng năm Nhâm Tuất (1802). Lúc ấy quân Tây Sơn đã bị thua trận Nhật Lệ, vua Quang Toản tiến ra Bắc tạm dừng ở Vinh, sai Phan Huy Ích làm văn tế các tướng sĩ chết trận. Vĩnh Dinh tức là Trung đô, ở gần Bến Thuỷ tỉnh Nghệ An ngày nay.

Nguồn: Xứ Đoài thơ, Quỹ Hỗ trợ Văn chương & Cuộc sống biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Bờ bể sườn non mệnh xuất quân,
Xe vua thù giặc phải đồng lòng.
Nát tan mặt trận không từ hiểm.
Xa nước nhà chưa trả hận chung,
Gối giáo liều thân vì đất nước,
Khánh vang vua nhớ đến ba quân.
Trung thần thương xót vua về tế,
Xin nhận vong linh thơm chén này.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Vũ Đình Liên

Non biển ra đi, cảm khái lòng,
Theo xe vua tiến, quyết tranh công.
Nước nhà xa vắng, thù chưa báo,
Chiến trận gian nguy, bước chẳng chùng.
Giáo gối, liều mình bờ cõi giữ,
Khánh nghe, nhớ kẻ chiến trường xông.
Xót người trung nghĩa, lên đàn lễ,
An ủi vong hồn, chén rượu thơm.


Nguồn: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Văn học, in lần thứ 2, Hà Nội, 1978
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời