Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Phú
Thời kỳ: Cận đại
4 bài trả lời: 2 bản dịch, 2 thảo luận
2 người thích

Đăng bởi Hungan vào 21/09/2007 00:16, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 21/09/2007 10:39

Bái thạch vi huynh phú

(Dĩ thạch bất năng ngôn tín khả nhân vi vận)

Nguyệt lạc Thương Giang,
Vận đôi Hoàng Thạch.
Liệm khước trần dung;
Túc thử kiệt khách.
Tung tằng lăng chi ngạc cốt, chi ưng trưởng ngã thập niên;
Ấp lỗi lạc chi kỳ tư, liêu phục nhượng quân bán tịch.
Diệc dĩ:
Thạch chi vi vật, nguy nguy ngật ngật
Thái thượng nhân chi vong tình;
Đại trượng phu chi bất khuất.
Kình thiên tác trụ, tiên vạn cổ chi cương thường;
Trịch địa thành danh, hướng lưỡng gian chi văn bút.
Kiến chỉ cấn chỉ, huynh giả phỉ tha,
Kính chi ái nhi, bái hồ cảm bất.
Thời hoặc:
Tinh lam phỏng; viễn trục đăng.
Nhan sả tiếp; thần hốt ngưng.
Nham yêu tùng nhi tiệm khẩn;
Sơn kiên túng nhi vi lăng.
Trịch thương thanh trung, hưởng minh truyền chi vạn điệp;
Chỉnh y lập xứ, phi túc chướng chi thiên tằng.
Thị hoán kha kha, định điểm đầu dĩ thương hứa;
Phi hiềm lục lục, khỉ chiết yêu nhi bất năng.
Phùng quân bán diện; thính ngã nhất ngôn.
Nhất xang khối lội;
Song nhãn càn khôn.
Tùng chi biên hề hạc tử;
Cốc chi trung hề lan tôn.
Duy quân dã sương vi mao, ngọc vi tuỷ,
Duy ngã dã tuyết vi phách, băng vi hồn.
Ngã nguyệt tố đệ; huynh đương thị côn.
Thỉnh xai bá thi chi cư, ngũ bách niên tiền hà xứ;
Hợp tự trường quân chi xỉ, thập nhị hội vi nguyên.
Tự ngoan tự si; diệc hào diệc tuấn.
Cố miện tương lân; ngang tàng tự tín
Nhược can niên bất khuất tất, khỉ ưng vũ vũ lương lương...
Kiến tân nguyệt tiện hạ giai; tương đối truân truân lận lận.
Ninh hiềm cức bái, bân biên chi bộc bộc kỷ hồi;
Khỉ nhã nan huynh, bích lập chi nhan nhan vạn nhẫn.
Vạn tụ huề quy; bán song bồi toạ.
Đông hải thổ thôn; bồng lai hữu tả.
Thác tân hoa chi ngũ sắc, khả nhân khả nhân,
Uẩn mỹ phác chi liên thành, loại ngã loại ngã.
Toại linh:
Vong hình hài; duyệt u nhã
Lạc hữu hiền huynh; diệc viết bái khả.
Vi thừa nguyệt nhi cứ hổ báo, Xích Bích thuyền đầu:
Thả lâm phong nhi ấp thần tiên, Cốc Thành sơn hạ.
Nại hữu:
Khầm thương vũ, ngạo hồng trần.
Đảng hung tắc bát cửu Vân Mộng;
Kiết lô ư vạn hác tùng quân.
Hỷ Mễ huynh chi vi lão; chiêu thạch tính dĩ vi lân
Tam sinh điền hải chi tư, vị vong tương bá;
Nhất phiến bổ thiên chi lực, hựu thị phùng quân.
Đệ tương:
Túc y quan nhi chỉnh bái;
Kỳ tứ hải dĩ vi xuân
(Bất áp nhân vận)


Năm 1987 (khoa Đinh Dậu), sau vụ án "Hoài hiệp văn tư, chung thân bất đắc ứng thí" (mang sách vào trường thi, suốt đời không được đi thi), Phan Bội Châu vào kinh đô Huế, vừa để vận động xoá án, vừa tìm cách liên kết các nhà chí sĩ. Nhân dịp Tế Tửu của Quốc tử giám là Khiếu Năng Tĩnh ra cho học trò bài phú có nhan đề là "bái thạch vi huynh" (tôn đá làm anh), Phan Bội Châu đã làm nhiều người như Khiếu Năng Tĩnh, Nguyễn Thượng Hiền thán phục, và được chép truyền nhiều nơi trong nước. Phan Bội Châu thêm một lần nổi tiếng khí phách và có văn tài từ bài phú này, đặc biệt là với giới sĩ phu trong nước. Về văn bản, bài phú chép lại trên đây, chắc còn có sai sót, mong được bổ khuyết.

Thơ phú câu đối chữ Hán Phan Bội Châu, NXB Văn học, 1975 và Tạp chí Văn học, tháng 12-1964.
Nguồn: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Nhờ Admin sửa giúp cho nó đèm đẹp tí nha.

Bài này có thể sai sót dăm ba lỗi chính tả, có chi nhờ Admin hay ad-mod chi đó sửa giúp cho nó đèm đẹp tí tị tì ti! Cảm ơn nhiều.

Hung@n
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Tôn Quang Phiệt

(Theo các vần: thạch bất năng ngôn tín khả nhân)

Trăng xuống Hương Giang;
Mây dồn Hoàng Thạch.
Chỉnh hình dáng thường;
Kính người quí khách.
Xem cốt cách rắn rỏi, tuổi nay hơn tớ mười năm;
Tiếp phong tư lạ kỳ, chiếu hãy nhường anh nửa chiếc.
Đã thấy:
Đá là một vật; cao cao ngất ngất
Bậc thái thượng vô tình;
Đại trượng phu bất khuất
Chống trời làm trụ, cương thường nên suốt ngàn xưa;
Ném đất thành âm, văn bút vang lừng trời đất
Đã thấy đã gặp, anh đó chứ ai;
Đáng kính đáng yêu, tôi xin lạy thật.
Có khi:
Gặp buổi quang tạnh, lên núi tung tăng
Dung nhan vừa tiếp xúc, tinh thần bỗng bâng khuâng.
Sườn non rậm rì bờ bụi;
Vai núi nổi thành kỳ lăng.
Vút gậy tiếng vang, suối dội kêu lên muôn lớp;
Mặc áo ngồi lại, gạt tan chướng khí ngàn tầng.
Thử gọi đàn anh, chắc đã "gật đầu" hứa hẹn;
Hiềm chi bé nhỏ, há rằng không thể khom lưng.
Cùng anh gặp gỡ, nghe tôi phát ngôn.
Một lòng sành sỏi,
Hai mắt càn khôn.
Bên tùng là hạc tử;
Trong hang là lan tôn
.
Nghĩ như anh xương là lông, ngọc là tuỷ;
Còn như em tuyết là phách, băng là hồn.
Tôi xin làm em út, anh chính là bậc côn.
Đoán xem bá thị ngày xưa, năm trăm năm đâu là quê quán;
Tính lại "trường quân" bao tuổi, mười hai hội ấy là một nguyên.
Như ngoan như si cũng hào cũng tuấn,
Nhìn nhau tương lân cùng nhau tự tín.
Đã bao năm, không uốn gối, phải đâu ra vẻ lạnh lùng,
Thấy trăng mới, liền xuống thềm, cùng để tỏ lòng vương vấn.
Đâu hiềm chi lạy mãi, bên mây theo đuổi bao phen,
Há ngại khó làm anh, thẳng vách trông cao muôn nhẫn.
Kéo áo dìu về, trước cửa bồi toạ,
Đông hải ra vào, bồng lai hữu tả.
Hoa mới rõ màu năm sắc, người khá khá ghê;
Ngọc lành đáng giá liên thành, giống ta giống quá.
Cho nên:
Quên hình hài, yêu nhàn nhã.
Vui có anh hiền, xin vâng bái tạ.
Chưa nhận trăng để cưỡi beo cọp, đâu thuyền Xích Bích rong chơi;
Hãy đón gió mà vái thần tiên, dưới núi Cốc Thành nấn ná.
Nay có kẻ:
Dọc ngang vũ trụ; chế nhạo hồng trần.
Rửa bụng bằng tám chín đầm Vân Mộng;
Làm nhà dưới hàng muôn hác tùng quân.
Mừng anh Mễ chưa già mấy, mời chất đá để làm lân.
Ba sinh lấp bể có lòng, chưa quên nhờ bác giúp;
Một mảnh vá trời ra sức, này lại gặp người thân.
Em xin:
Chĩnh áo khăn mà lạy tạ;
Mong bốn bể cũng đều xuân
(Không áp vần nhân)




Bản dịch trên đây là của Tôn Quang Phiệt và có dựa theo bản dịch của Ngô Lập Chi trên "Tạp chí văn học" tháng 12-1964.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản chép trong chép trong "Giai thoại làng nho" của Lãng Nhân

Bái thạch vi huynh phú

Dĩ "thạch bất năng ngôn tín khả nhân" vi vận

Du bãi Thương Giang,
Đạo phùng Hoàng Thạch.
Liễm khước trần dung;
Túc thử kiệt khách.
Tướng lăng tằng chi ngạc cốt, chi ưng trưởng ngã thập niên;
Ấp lỗi lạc chi kỳ tư, liêu phục nhượng quân bán tịch.

Diệc dĩ:
Thạch chi vi vật,
nguy nguy ngật ngật
Thái thượng nhân chi vong tình;
Đại trượng phu chi bất khuất.
Kình thiên tác trụ, tiêu vạn cổ chi cương thường;
Trịch địa thành danh, hướng lưỡng gian chi văn bút.
Kiến chỉ, kiến chỉ, huynh giả, phi tha!
Kính chi, kính nhi, bái hồ cảm bất.

Thời hoặc:
Tinh lam phỏng;
viễn trục đăng.
Nham yêu tùng nhi tiệm khẩn;
Sơn kiên túng nhi vi lăng.
Thí hoán kha kha, định điểm đầu dĩ tương hứa
Phỉ hiềm lục lục, khỉ chiết yêu nhi bất năng

Phùng quân bán diện;
thinh ngã nhất ngôn.
Di phong, tỉ nguyệt,
Phụ kiền mẫu khôn.
Duy quân dã sương vi mao, ngọc vi tuỷ,
Duy ngã dã tuyết vi phách, băng vi hồn.
Thỉnh thai Bá Thúc chi cư, thiên bách niên tiền hà xứ;
Hợp tứ Kiều Bành chi xỉ, thập nhị hội vi nguyên.

Tự ngoan tự si;
diệc hào diệc tuấn.
Cố miện tương lân;
ngang tàng độc tín
Nhược can niên bất khuất tất, chỉ ưng vũ vũ lương lương
Kiến tân nguyệt nhi hạ giai; tương đối tuân tuân lật lật.

Vạn trục huề quy;
bán song bồi toạ.
Đông hải thổ thôn;
bồng lai hữu tả.
Thác tân hoa chi ngũ sắc, khả nhân khả nhân,
Uẩn mỹ phác chi liên thành, loại ngã loại ngã.
Toại linh:
Vong hình hài;
duyệt u nhã
Lạc hữu huynh hiền;
diệc viết bái khả.
Vi thừa nguyệt nhi cứ hổ báo, Xích Bích thuyền đầu:
Thả lâm phong nhi ấp thần tiên, Cốc Thành sơn hạ.

Nại hữu:
Khâm thương vũ,
Ngạo hồng trần.
Đãng hung tắc bát cửu Vân Mộng;
Kiết lư ư vạn hác Tùng quân.
Hỷ Mễ huynh chi vi lão;
Chiêu Thạch tính dĩ vi lân
Tam sinh điền hải chi lao, nguyện ngôn tư bá;
Nhất phiến bổ thiên chi lực, hữu hạnh phùng quân.

Đệ tương:
Tương túc y quan nhi chỉnh bái;
Phục kỳ tứ hải dĩ vi xuân.


Vào khoảng năm 1895, Phan Bội Châu lúc bây giờ chưa thi đỗ nhưng tiếng tăm đã lừng lẫy vì văn chương và chí khí quật cường. Ông thường ra Bắc vào Nam, lấy mối duyên văn tự kết thân với những người có tâm huyết.

Một hôm vào Huế nghe Nguyễn Thượng Hiền có mở trường học, liền tìm đến, vì biết tiếng Nguyễn là bậc cao sĩ (Nguyễn đỗ trúng cách kỳ thi hội năm 1885 nhưng chưa kịp truyền lô thì vua đã xuất bôn, nên trong thồi gian này ở nán lại kinh sư dạy học cho qua ngày).

Hôm ông tới trường thì Nguyễn vừa ra cho học trò một bài phú lấy đầu đề là "Bái thạch vi huynh". Ông liền thảo ngay một bài và đưa nộp.

Nguyễn Thượng Hiền đọc văn lấy làm kinh ngạc, cho là thần bút. Đọc đến vần nhân soát lại không thấy vế nào có chữ nhân ở cuối, Nguyễn mỉm cười. Theo lẽ, mỗi đoạn đều phải có chữ đã ra làm vần ở cuối một vế thì mới hợp phép. Lại xem đến câu:
"Tam sinh điền hải chi lao, nguyện ngôn tư bá;
Nhất phiến bổ thiên chi lực, hữu hạnh phùng quân"
thì Nguyễn thấy ngay thâm ý Phan nói về thời thế, hờn mất nước, chí phục thù, để khích lệ mình, bèn phê: Tích trạng nguyên hữu vô "tâm chi phú, kim quân hầu diệc mục hạ vô "nhân" đa? (Xưa có vị trạng nguyên làm bài phú bỏ vần tâm để chí trích vua cai trị vô nhân đạo, nân ông bỏ vần nhân dễ thường cho thiên hạ không có ai là người cả hay sao?) Nguyễn muốn ngầm bảo: còn có tôi đây chứ! Thế là Nguyễn đã mắc vào mưu của Phan: khuyên mời không bằng nói khích. Quả nhiên sau này, Nguyễn từ quan, bí mật xuất dương, theo Phan lập Việt Nam Quang phục hội.

Nguồn: Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, NXB Nam Chi tùng thư, 1966
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của (Không rõ)

Lấy câu thơ "Thạch bất năng ngôn tín khả nhân" làm vần

Dạo chơi khắp nẻo Thương giang,
May gặp giữa đường Hoàng Thạch,
Vội cúi mặt trần
Kính chào kiệt khách
Trộm liếc ngang tàng ngạo cốt, hơn ta chỉ độ mười niên
Ngắm coi lỗi lạc phong tư, nên kính nhường người nửa chiếu

Lại xem:
Đá nguyên là vật
Vòi vọi cao ngất
Rõ thái thượng nhân quên tình
Hệt đại trượng phu chẳng khuất
Chọc trời cột trụ, nêu cao muôn thưở cương thường
Gieo đất tiếng vang, lừng khắp hai vùng văn bút.
Thấy đó, thấy đó, rõ anh còn ai
Kính thay, kính thay, xin lạy chẳng chút...

Có khi:
Đôi lần thăm hỏi,
Cao cũng trèo lên,
Sườn núi rậm rì mấy bụi,
Đầu non chót vót đôi bên,
Thử nói: trình anh, tất phải cúi đầu đáp lễ.
Phải đâu như họ, dù cho mỏi gối chẳng nài!
Gặp anh một chút,
Nghe em đôi lời:
Dì trăng, chị gió,
Mẹ đất, cha trời.
Anh thì hình sương vóc ngọc,
Em thiệt cốt sắt hồn băng!
Lường xem Bá, Thúc nơi nào, ngàn mấy trăm năm đâu chốn?
Hợp tứ Kiều, Bành bao tuổi? mười hai hội là một nguyên!
Giả điếc, giả ngây,
Tự hào tự tuấn,
Săn sóc cùng thương,
Ngang tàng tự tin,
Đã bao năm không khuất tất, vì chưng lọc cọc lon bon;
Thấy trăng non nên xuống thềm, càng phải kiêng kiêng nể nể!
Muôn trục xách mang,
Bên giường hầu hạ,
Đông hải chờn vờn
Bồng lai lơi lả.
Rõ thật hoa tươi năm sắc, duyên dáng bóng người.
Mới hay giá trị liên thành, tốt tươi vẻ ngọc.

Khiến cho:
Quên hình hài,
Ưa u nhã,
Vui có anh hiền,
Cúi xin lạy tạ.
Dưới bóng nguyệt thu hình hổ báo, Xích Bích đầu thuyền,
Lại lâm phong vái lạy thần tiên, Cốc Thành chân núi.

Này có:
Kính trời xanh,
Ngạo hồng trần.
Trừ hung đến khoảng chằm Vân mộng
Cất nàh nơi vạc hác Tùng quân.
Mừng Mễ huynh hãy còn tráng kiện,
Coi họ Thạch như chỗ hương lân.
Trọn đời lấp biển ra công, lại càng mong bác,
Đôi chút vá trời giúp sức, may được gặp anh.

Em xin:
Chỉnh đốn áo khăn cúi lạy,
Ước mong bốn bể vui xuân.


Nguồn: Giai thoại làng nho, Lãng Nhân, NXB Nam Chi tùng thư, 1966
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời