Mở sách Mạnh xem;
Gẫm câu Lễ nói.

Phỉ nguyền nhẽ tấm chồng đắt lứa, sợi xích thằng gắn bó phượng loan;
Phải phép thay lời mẹ nhủ con, bức hồng cẩm dãi bày sông núi.

Cặn kẽ vu quy mấy chữ, hết cả tóc tai;
Dặn dò xuất giá một thiên, in vào gan phổi.

Đang khi:
Đào hẹn gió đông;
Lý cười nguyệt ỏi.

Gái trâm thoa trang điểm sắp về;
Trai võng lọng nghênh ngang vừa tới.

Thẹn thẹn thò thò nấp kín, hé mành nom rể họ dâu ta;
Ngần ngần ngại ngại ra đi, lên nhà lạy mẹ cha nghỉ lại.

Cha trượng phu cất tiếng ư ê;
Mẹ phụ nhân ra tình bổi hổi.

Rằng mẹ cũng chiều lòng con mọn, kẻo những e trăng xế hoa tàn;
Nhưng mẹ thương con chút phận hèn, đành phải chịu bèo trôi bọt nổi.

Con là con mẹ, trót đã gả đi;
Dâu thật dâu người, ở sao cho giỏi.

Vậy con được duyên tròn phận thắm, cũng mừng vì gặp bước sớm may;
Song con còn tuổi trẻ đầu xanh, hoặc không biết thờ chồng phải thói.

Đạo dạy gái, cha không xá đến, nên phải đỡ lời;
Sự làm dâu, mẹ cũng đã từng, kể sao xiết nỗi.

Vì khi:
Bỡ ngỡ nhà người;
Rụt rè buổi mới.

Dẫu biết nghi gia là phép phải, mười ngón tay khôn lựa tính cương nhu;
Dù hay trung quỹ ấy đạo thường, hai chầu bữa chớ quên lề sớm tối.

Lệch guôn đỉnh chút dát chồng chê;
Trái khoáy tơ hào e mẹ chửi.

Chồng muốn biết khéo thu hay vụng, đã thử thanh tiền rắc chân giường;
Mẹ toan xem có cùng chăng, lại giả cách kim vùi đáy gối.

Hữu phúc gặp được nhà năng nhẫn, một kiếp an thân;
Vô duyên vớ phải đứa đa đoan, đủ đời chịu tội.

Người để người sinh công đức ấy, nỡ nào mà gia tiếng nặng nề;
Ông bà ông vải tội tình gì, động chút đã rộn lời chửi bới.

Cô nọ chẳng soi chân bằng đuốc, lưỡi không xương khéo đặt lời gièm;
Chị kia chẳng giải chiếu rập dơ, tai nép vách khéo dò sự lỗi.

Nguồn cơn là thế, dã đành bấm bụng biết sao;
Nông nỗi vì đâu, cũng phải vắt tay nghĩ vuối.

Bụt trên toà, gà nào dám mổ, nọ mấy người gắp lửa bỏ tay không;
Vua bếp nòng, công cũng chói ghê, há bởi kẻ bới lông tìm vết mảy.

Đức ông đà lắm giọng cao kỳ;
Bà vãi cũng nhiều câu bất chọi.

Mất nết mất na ai nhịn được, lời chì tiếng bấc nào oan;
Cứng đầu cứng cổ để làm chi, dùi đục cẳng tay cũng phải.

Rau nào sâu ấy, tiếng ví von người mới đàn hoà;
Con dại cái mang, lời chì chiết mẹ khôn đôi chối.

Ấy sự tình có vậy, con rày nên tính cạnh tính vành;
Còn luân lý những chi, mẹ sẽ kể hết đầu hết cuối.

Vậy lấy vợ thường như lấy nợ, phượng hoá gà nào cứ giống cánh lông;
Mà sinh con không dễ sinh lòng, lừa hoá ngựa chắc chi nhà dòng dõi.

Mẹ cũng từng bởi dạy mới khôn;
Con hồ dễ tự nhiên mà giỏi.

Nên khuyên con:
Bỏ nết kiêu căng;
Giữ niềm kính giới.

Làu làu tứ đức để treo gương;
Cạy cạy tam tùng đem thắt túi,

Cha chồng là cha đấy nhé, dẫu gắt gỏng như ông Cổ Tẩu, hãy giằng mắt cắn răng;
Mẹ chồng là mẹ phải nao, đừng phân lề bắt thói Doanh Tần, mà giề môi nghiến lợi.

Anh em chồng như anh em ruột, phải đìu hiu lúc hỉ lúc ưu;
Chú bác chồng là chú bác mình, đừng chếch mếch chữ thân chữ ái.

Kể thày người tớ, phải thương yêu đừng có giày vò;
Hàng xóm láng giềng, phải hoà thuận chớ hề đong đỏi.

Bà con phỏng nhàn qua tới cửa, chớ ngồi dai mà đãng việc tảo tần;
Chợ búa không nên kháo chuyện nhà, kẻo vui miệng lại xông mùi hành tỏi.

Đứng ngồi khép nép, đùng có hở hang;
Cất nhắc nhẹ nhàng, chớ hề xốc nổi.

Một gánh giang san vai vác, ngày siêng năng tiếc bóng câu qua;
Bốn mùa canh cửi tay chăm, đêm tỉnh thức lắng canh gà gáy.

Tiếng chào thưa ngọt lọt đến xương;
Việc sai khiến nết tươi như rói.

Khéo mịn thớ để cậu cô ưa hết thảy, ai còn dò bắt nét nói gièm;
Chẳng khoe khôn mà lân lý khét một vành, ai dám mỉa học đòi cũng gọi.

Còn về thờ một đức anh chồng;
Càng phải biết những điều chính lối.

Chồng giàu sang con được vẻ vang;
Chồng hèn hạ con đừng hắt hủi.

Chồng khôn con được phận nhờ;
Chồng dại con đành chịu tủi.

Chồng đi học sắm nghiên bút giấy, đừng lo tốn vải bởi lưng dài;
Chồng lực điền chăm bữa cơm canh, chớ để quá trưa nên dạ đói.

Chồng cờ bạc, về rồi sẽ liệu, chớ động hề đầu cổ đang tay;
Chồng rượu chè, tỉnh lại sẽ hay, hãy gắng gỏi bàn chân bóp muối.

Trước sao sau vậy, cứ vẹn niềm Nam Giản hẳn hoi;
Gọi dạ bảo vâng, chớ giở giọng Hà Đông lảnh chói.

Vốn những soi gương họ Mạnh, nâng án ngang mày;
Hãy từng học mẫu nàng Tô, trao thoi dệt cửi.

Bấy nhiêu tiếng nhủ tiếng khuyên;
Tóm lại có giường có mối.

Gẫm vào cho kỹ, đừng như nước đổ lá khoai;
Cứ đấy mà noi, chắc nịch dao bầu chém chuối.

Cho khỏi tiếng rựa cùn trâu chậm, còn hơn vợ dại trong nhà;
Để nức danh gió ngát xạ hương, mới thật dâu hiền nên gái.

Tiếng gia giáo lừng ba bốn cõi, ai chẳng khen lao;
Nết hiền thê dấu để nghìn thu, người không chán mỏi.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 121, tháng 9-1927