Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 30/03/2010 17:59, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vodanhthi vào 06/04/2010 18:28

Một thời Phật trụ nơi đây,
Như mưa xuân đượm cỏ cây đồng đều.
Người người theo đạo cao siêu,
Khác chi cây cỏ kết nhiều trái thơm.
Một lòng như pháp y nương,
Mỗi người là một đạo trường trí bi.
Trong thành Xá-vệ nước kia,
Có ngàn thiếu nữ quy y Phật từ.
Sang giàu cho đến bần ngu,
Sáu điều hòa hợp, cùng tu một chùa.
Ngày ngày trai tịnh công phu,
Cầu yên dân nước, đền bù đàn-na.
Khiến cho các hàng tại gia
Tín tâm Tam bảo, thuận hòa an vui.
Trong hàng ni chúng có người
Vốn dòng quý tộc tuyệt vời hoa dung.
Xưa quen nệm gấm màn nhung,
Vườn xuân yểu điệu đóa hồng chúa hoa.
Văn chương lễ giáo nếp nhà,
Kết thành ngọc giữa Ta-bà nghiêm trang.
Thi nhân phương ấy có chàng
Đã bao ngày tháng vì nàng ngẩn ngơ.
Khi giai nhân chọn đường tu,
Lòng si cay đắng nên thơ bao vần.
Than người hoài phí tuổi xuân,
Đời hoa rực rỡ có ngần mà thôi.
Được mang nhan sắc tuyệt vời,
Sao toan dìm phí trong nơi am thiền.
Mà nào chắc hết trần duyên,
Mốt mai biển ái gọi đền nguồn ân.
Bấy giờ thân mới thương thân,
Nâu sồng một thuở, vẻ xuân đâu còn!
Cô phòng ngày tháng héo hon,
Nhìn người hương lửa sớm hôm ấm nồng…
Thơ bay tới biết bao dòng,
Trước còn dạ vững, sau lòng phân vân.
Nghe ra lý lẽ đôi phần,
Lá xanh xuân nọ vàng dần hơi thu.
Ni về khép cổng chùa tu,
Sớm mai mở cổng quét thu hồng đào.
Hoa vương ngọn chổi thanh hao,
Thoảng nghe hơi thở hương nào bướm nghiêng.
Lòng đôi cửa tục, cửa thiền,
Ai xui con nhện giăng thêm tơ vò.
Nghĩ gì chim hỡi nhỏ to,
7.850.  Có buồn lá úa trên đò nước xuôi.
Mây ơi, trôi nổi bao đời,
Chừng như mây nhớ chân trời về mau.
Cỏ ơi, sao cỏ rầu rầu,
Vườn xanh đã rụng trên đầu mấy xuân.
Núi ơi, sao núi tần ngần,
Chân ơi, có nhớ đường vần vũ hoa.
Tâm tình, sư trưởng nhận ra,
Thấy ni dưới gốc mai già đăm chiêu.
Biết xuân xanh ấy diễm kiều,
Biết trong tuổi trẻ có nhiều đam mê.
Trách mình giới luật nghiêm trì,
Mà đường giáo lý trí bi lơ là
Khiến cho ni chúng trong chùa
Tâm chưa vững trước lọc lừa thế gian.
Hôm sau lên trước quả đường,
Thỉnh xin mở một đạo trường Như Lai.
Đem Kinh, Luật, Luận khai bày,
Thỉnh bà Vi Diệu làm thầy giảng sư.
Vị này tu học công phu,
Đạo cao đức trọng sớm trưa tu trì.
Vẻ hoa còn thắm dung nghi.
Hẳn nhan sắc thuở xuân thì ai hơn.
Bây giờ chấp chưởng thiền môn,
Xứng danh tài đức đôi đường vẹn hai.
Chọn ngày chính pháp khai bày,
Đạo trường ni chúng ngồi vây điệp trùng.
Toàn là mơn mởn thu dung,
Tuổi hoa đương thuở ngại ngùng chúa xuân.
Gian nan chưa lấm đường trần,
Cầu oan chưa hẳn một lần bước qua.
Tham mê còn ám lòng hoa,
Thanh cao gương sáng Phật-đà chưa soi.
Nghĩ nên đem hẳn cuộc đời
Làm đề thuyết pháp, thức người sơ cơ.
Tiếng chuông khai giảng đến giờ,
Ni sư từ tốn lên tòa khói hương:
“Dục tâm như lửa nung than,
Huyễn mê là gốc con đàng chúng sanh.
Tạo nên ảo giác, giả thân,
Cuốn trong tham hận muôn phần khổ đau.
Bần ngu cho đến sang giàu,
Có thân có khổ như nhau khác gì.
Sanh, già, bệnh, tử, biệt ly,
Thôi thì thù hận, thôi thì oán than.
Giả danh là cõi tù giam,
Khiến thân khẩu ý vô vàn giáo đâm.
Thoáng vui lòng chửa vội mừng
Đã rơi dòng lệ rưng rưng mắt đầy.
Ai từng lo héo mặt mày,
7.900.  Ai từng thức suốt đêm dài thở than.
Dặm trường ai có gian nan
Mới từng hiểu rõ trái oan là tình.
Rồi bà thuật lại chuyện mình,
Khi xưa tên gọi Đoan Trinh diễm kiều.
Gặp người anh tuấn mến yêu,
Nhưng cha mẹ chẳng thuận chiều lòng con.
Ép duyên về một vương tôn,
Khiến chàng trai nọ tủi buồn ra đi.
Ba năm, sau lễ vu quy,
Phòng hương vừa tiếng hài nhi chào đời
Thì dồn dập những nạn tai.
Đầu xuân ấy, giữa đêm dài giấc mê
Chợt nghe vó ngựa giặc về,
Giật mình, lửa đã mấy bề bốc cao.
Vội vàng theo lối cửa sau
Ôm con trốn lẩn rừng sâu lạnh lùng.
Sáng ngày trời mới hừng đông,
Lần về còn cảnh tro hồng bụi rơi.
Giặc đêm đã giết chồng rồi!
Gia nhân kẻ chết, kẻ thời trốn đâu.
Bên chồng khóc ngất giây lâu,
Rồi lo bới đất vùi sâu trọn tình.
Ôm con liền bước loanh quanh,
Mong tìm về mái gia đình mẹ cha.
Nửa đường, quán trọ làng xa,
Gặp đêm bọn cưới vây nhà, giết con!
Thấy nàng nhan sắc mê hồn,
Dễ dàng toan bắt theo luôn về rừng.
Trong khi tướng cướp vui mừng
Thì lòng nàng đã quyết từng phút giây.
Trả thù con, cùng chết đây,
Còn hơn sống nữa, dẫu đầy vàng son.
Lần tay giấu ngược dao con,
Lừa đâm một nhát máu tuôn thành dòng.
Bị thương, tướng cướp nổi hung,
Thế là chịu trận hãi hùng vũ phu.
Ngất đi, tưởng chết bấy giờ,
Nào hay hồi tỉnh lúc vừa bình minh.
Bàng hoàng giữa cảnh vắng tênh,
Xác con tím ngắt cạnh mình, hỡi ôi!
Nhận ra, lại xỉu từng hồi,
Những toan cắn lưỡi lìa đời cho xong.
Chợt nhìn tán lá sầu đông,
Cha già mẹ yếu hẳn trông tin mình.
Còn thân, thôi cũng thôi đành,
Cầm bằng phận mỏng thời xanh nhuốm chàm.
Tình duyên là những vòng tang,
Gắng về cố quận để làm đạo con.
Đường dài lê gót héo hon
7.950.  Đến nhà, trời hỡi: đâu còn nhà xưa!
Gọi tìm cha mẹ ngẩn ngơ,
Có người chỉ giúp: hai mồ cỏ xanh!
Thân già chết nạn đao binh
Năm qua, lúc giặc hoành hành nơi đây.
Dân lành lắm kẻ tan thây,
Trông thôn xóm đó: còn đầy tan hoang.
Nghe thôi đau đớn kinh hoàng,
Đoạn tràng, ai đã đoạn tràng thế đâu!
Bước chân đưa rặt lối sầu,
Bàn tay định mệnh đẩy nhau đường cùng.
Còn gì, trong kiếp long đong,
Cái thân bèo dạt trên dòng gió mưa.
Lần ra bến nước sương mù.
Sông ơi, phận bạc xin nhờ lòng xanh.
Gió nâng tà áo gieo mình,
Sóng dồn tay biếc đón linh hồn sầu.
Là thôi, là hết thương đau,
Hồng nhan hẳn vượt thoát cầu truân chuyên.
Nào hay cõi sống ưu phiền
Còn đôi má phấn trả đền, chưa tha!
Giữa dòng nước xiết bao la,
Lưới đâu kéo vớt lên bờ thuyền ai.
Trong khoang cấp cứu một hồi,
Nàng dần dần tỉnh, thấy người ngẩn ngơ.
Đây là cõi thực hay mơ?
Cả hai cùng tưởng, cùng ngờ phải chăng.
Tình đau, ghi thuở tuyết băng,
Người lên xe cưới, người thầm lặng đi!
Bao năm, ai ngóng ai chi,
Chợt nay mắt lệ đầm đìa nhận nhau.
Đôi hồi cạn tỏ nông sâu,
Chuyện nàng tự thuở lên cầu tai ương.
Và lênh đênh những bước chàng,
Từ ra đi với sầu tan nát lòng.
Đã toan trời đất vẫy vùng,
Phá tan những nỗi bất công trên đời.
Đem cho thiên hạ nguồn vui,
Cánh tay niên thiếu chuyển dời nước non.
Nhưng rồi gió cát ba bôn,
Mấy năm dựng nghiệp, một cơn tan tành!
Ném gươm, bỏ mộng tung hoành,
Một thuyền một lưới lênh đênh sông dài.
Lấy đời ngư phủ làm vui,
Khi thăm bến lạ, khi rời thôn quen.
Với đời: không kể tuổi tên,
Với lòng: không nỗi trắng, đen đo lường.
Khi say trăng nước mênh mang,
Tựa thuyền gõ nhịp ca vang đất trời.
Một mình vui nốt cuộc chơi,
8.000.  Ngờ đâu nay lại gặp người thuở xưa.
Nghĩ rằng: trời định duyên ta,
Nên xin nàng nối đường tơ ngày nào.
Đoan Trinh luống ngại ngùng sao,
Một thân chìm nổi ba đào mấy phen.
Với chàng, như đã phụ duyên,
Hay chi mà định tái nguyền lửa hương.
Nhưng chàng khăng khít lời thương:
“Đã ly biệt, lại giữa đường gặp nhau.
Trời dành êm ấm về sau,
Lẽ đâu cố chấp chịu sầu dở dang.
Để cho đôi kẻ đôi đàng,
Xót nhau sinh nỗi đoạn tràng vì nhau.”
Cảm lòng chân thiết trước sau,
Gượng tươi nàng khẽ cúi đầu tạ ơn.
Trăng thề giờ mới tròn gương,
Đời xuân giờ mới sắt son ân tình.
Trên dòng nước biếc mông mênh,
Sóng êm rọi tỏ đôi hình uyên ương.
Bên nhau nào kể thời gian,
Tới khi thấy dấu hiệu nàng có thai.
Biếng ăn gần một tháng trời,
Trong thuyền choáng váng nằm ngồi không yên.
Chàng tìm mái nhỏ thôn quen
Cho nàng thai dưỡng ấm êm đợi ngày.
Vừa xong chốn ở nơi đây,
Căng buồm, chàng lại vượt ngay sóng trùng.
Tính toan thời phải gắng công,
Lưới chài thêm để tiêu dùng mai sau.
Mỗi lần đi cũng không lâu,
Cách ngày, chàng đã tìm nhau thăm chừng.
Lòng vui chẳng ngại nắng sương,
Sau vài chuyến, lại tính đường khác đi.
Biết rằng tại cửa sông kia,
Dân đi biển mới giàu vì ngọc trai.
Chàng bèn: “ta thử tới nơi,
Nghe buôn một chuyến, ăn lời cả năm.
Đi lâu cũng chỉ hai tuần,
Ở nhà nàng cứ an tâm, dưỡng mình.”
Nhìn chồng rời bến bình minh,
Nhớ nhung thêm đậm nghĩa tình phu thê.
Thêm yêu vườn nhỏ, bờ tre,
Chùm hoa tỉ muội bên bờ dễ thương.
Mười hôm, sau buổi tiễn chàng
Có người lạ mặt tìm nàng báo tin:
Chàng vừa gặp phải cơn đen,
Bán buôn phạm luật, quan trên giữ rồi.
Nhắn nàng phải gấp tới nơi
Để lo liệu, chậm rồi khó khăn!
Thất kinh, nàng vội theo chân


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam