Ngày xưa nơi Xá-vệ thành,
Có nhà giàu nọ phúc lành dày lâu.
Thường hay giúp kẻ cơ cầu,
Khiến cho giải oán vơi sầu nhiều nơi.
Cho nên phước báo tuyệt vời,
Sinh được một trẻ khác đời xưa nay.
Vừa ra đã biết hỏi ngay:
”Cha ơi, Phật vẫn trụ đời phải chăng?
Các ngài Xá-lợi, A-nan
Hẳn đi hóa độ thế gian chưa về?”
Tin đồn đãi khắp vùng quê,
Ai nghe chẳng muốn tìm về chia vui.
Phú ông thắng kiệu cùng người
Đi hỏi duyên cớ đến nơi vườn hồng
Bạch Phật: “đệ tử sinh con
Biết nói từ lúc lọt lòng, lạ chưa!
Chẳng hay do thiện nghiệp xưa
Hay là oan trái bây giờ báo nhau?”
Phật cười: “tích đức dày lâu,
Sinh ra phúc quả nhiệm mầu đó thôi.
Trẻ sau trí tuệ tột vời,
Làm cho tôn tộc đời đời quang vinh.
Vẻ vang khắp cõi nhân sinh,
Đó là đất phước, trí minh để đời.”
Nghe như cam lộ tỉnh người,
Cúi đầu lễ tạ, ngựa rời về thôn.
Tới nhà vừa lúc hoàng hôn,
Chim đâu tụ suốt chiều hôm vui vầy.
Vào phòng, trên chiếc nôi mây,
Gặp cha, trẻ lại tỏ bày thiết tha:
”Lòng con muốn thỉnh Phật-đà,
Rước theo Tăng chúng về nhà cúng trai.
Cha chìu con thỏa nguyện này,
Vì con thực đã bao ngày ước mong.”
Ông rằng: “sẽ được như lòng
1.050.  Để cha sửa lễ cúng dường Như Lai.”
Trẻ thưa “La-nại thành ngoài,
Mẹ xưa còn ngụ xóm chài héo hon.
Đón về cho mẹ nhận con,
Trần gian lưu một nét son nghĩa tình.
Xin bày ba tòa cung nghinh,
Ngồi trên: Tăng, Phật chứng minh lễ đài.
Kế tòa thanh tịnh phạn trai,
Dành mời hiền mẫu xóm ngoài thành La.
Một tòa cung thỉnh mẹ cha,
Trên ơn Tam bảo, dưới nhà thuận vui.”
Hôm sau thiết lễ trai thời,
Hồng tươi hoa điểm, xanh ngời trầm vương.
Ẵm trẻ ra lễ thềm hương,
Thỏa lòng kính ngưỡng, vẹn đường thâm ân.
Cũng nhờ diệu pháp chính chân,
Một nhà tỉnh giấc mộng trần mê si.
Trẻ sau cũng được quy y,
Như chim vỗ cánh xuân thì bay sang.
Chẳng bao lâu chứng đạo vàng,
Quả A-la-hán rõ ràng nhân thiên.
Một hôm hầu Phật bên thềm,
Tôi đem chuyện hỏi: nhân duyên lẽ nào?
Vừa tu đã chứng đạo mầu,
Vừa sinh đã nói làu làu chuyện xưa?
Phật rằng “gió thoảng mây đưa,
Chuyển mê, khai ngộ một bờ chẳng hai.
Tiền thân cậu bé kiếp này
Là con một họ ở ngoài thành La.
Lạc loài từ thuở mất cha,
Đi làm nuôi một mẹ già sớm hôm.
Lần hồi bữa cháo bữa cơm,
Chân mòn cát trắng, áo đơm bụi hường.
Một hôm gặp Phật bên đường,
Lấy chi mà để cúng dường bậc cao?
Lần lưng còn một hạt đào,
Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.
Nguyện sau cây lớn xum xuê,
Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.
Nguyện xin trái thẫm hoa tươi,
Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.
Theo như lời Phật mà nương,
Cứu muôn loài để cúng dường mới cao.
Nhờ công đức cấy hạt đào,
Kiếp này thân được sinh vào giàu sang.
Đường tu chứng ngộ đạo vàng,
Rồi đây muôn cõi cúng dàng kể chi.”
Phật ngồi bên giậu tường vi,
Chùm hoa xanh nở trên y nhuốm vàng.
Một con bướm dại vừa sang,
1.100.  Cánh bay lẫn giữa đôi hàng xuân hoa.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam