Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 26/03/2010 18:18

Thôn xưa, hoa nở rực đường,
Sớm mai trời biếc sương vương dặm dài.
Lá xanh như vạn mây đài,
Đựng muôn hồng ngọc tỏa soi diệu kỳ.
Chân trời mây lẫn cò đi,
Cánh như lụa uốn xanh rì thảm tơ.
Sóng xa vọng tiếng đò đưa,
Gió thơm từ núi mai mơ thoảng về.
Bước chân mở đạo Bồ-đề,
Bình mình trên tấm hoàng y tỏa ngời.
Đức Ca-chiên-diên là ngài,
Gót như hạc nổi, mây trời lâng lâng.
Ngài đi về phía trời hồng,
Nương khoai xanh ngắt, bềnh bồng chim ca.
Chợt trông thấy một lão bà
Ôm thân rách rưới lệ sa sụt sùi.
Tôn sư nghe, dạ bùi ngùi,
Dừng chân mới hỏi thăm người nọ kia.
Bà rằng “thầy hỏi làm chi,
Thân già nghèo khổ ra gì cái thân.
Một đời cơ cực gian truân,
Bây giờ tuổi lão ai cần mướn tôi.
Làm gì được, lúc mòn hơi,
Tìm đâu được một chút vui, đời tàn…!”
Nghe rồi, ngài Ca-chiên-diên
Dùng thần lực trút ưu phiền bà kia:
“Thân già nào đáng sợ chi,
Cái vui, đâu phải tuổi gì mới vui.
Có con đường lớn sáng ngời,
Gắng đi, tất sẽ đến nơi ước cầu.
Ngồi đây trách oán thảm sầu,
Vùi mình trong khổ, ai đâu cứu mình.”
Bà nghe chợt nảy lòng thành,
Xin thầy chỉ dẫn đường lành cho ra.
Sư rằng “bà xuống bến kia
Ngâm mình dưới nước tắm cho sạch người.
Rồi lên trút giọt mưa ngời,
5.600.  Đọng trên lá đó, xong rồi lại đây.”
Vâng lời, bà lão đi ngay,
Cố công theo đúng lời thầy bảo cho.
Khi bình trút đầy nước mưa,
Dâng lên tôn giả, nương nhờ thiền oai.
Thầy truyền thập giới, trường trai,
Cùng pháp quán niệm đêm ngày tam quy.
Xong rồi tôn giả lại đi,
Đường xa in bóng hoàng y chập chờn.
Lão bà chống gậy lui chân,
Cây khô lại nở mạch xuân rì rào.
Ôm bình về tới thôn đào,
Tìm riêng xó chợ ai nào thèm qua.
Gặp người lắm chuyện rầy la,
Cũng im: vọng đức Phật-đà tín tu.
Chợ tan, giúp việc dọn thu,
Lòng vui, mật niệm nam-mô không ngừng.
Lại đem gạo vãi cơm vương,
Phát cho tổ kiến bên đường vào ra.
Một đêm dưới ánh trăng tà,
Bà ngồi quán tưởng Phật-đà lâng lâng.
Bỗng nghe sáo nhạc từng không,
Chư tiên ngự hạc cưỡi rồng xuống chơi.
Hương thơm thoảng ngát từng trời,
Tàn vàng kiệu ngọc tỏa ngời bảo châu.
Hoa muôn sắc, quả muôn màu,
Mời bà lên chốn ngọc lâu non Bồng.
Sáng ra, kẻ dưới trần hồng
Nhìn thấy bà lão bên trong vườn đào.
Lại xem thì chết từ lâu,
Nhưng xác ngồi tựa vách lầu ngắm hoa.
Mặt tươi như sạch trần sa,
Chủ vườn vội kéo xác ra ngoài rừng.
Trong khi trên đỉnh thiên cung,
Thức linh đã hiện tại rừng đào khai.
Bà nhờ công đức giới trai,
Làm vua Đao-lợi cõi trời vàng châu.
Chốn tiên nào biết ưu sầu,
Thung dung ngày tháng nhiệm mầu thần thông.
Lại đêm trăng chiếu cội hồng,
Ngài Xá-lợi-phất khởi lòng vân du.
Ngài vào khép cửa phòng tu,
Thần thông đi khắp Diêm-phù tiêu dao.
Lại vòng lên mấy vì sao,
Đâu đâu ngài cũng ghé vào thăm chơi.
Chợt qua Đao-lợi cung trời,
Thấy thiên vương nọ tỏa ngời hào quang.
Ung dung ngài tới điện vàng,
Vua kia vội tới cúng dàng thánh Tăng.
Đang khi vui chuyện thiên đường,
5.650.  Ngài liền hỏi thử nguyên căn vị này.
Vua trời rằng “phải nhờ thầy,
Căn ta còn mỏng, chưa dày huệ tâm.
Làm sao rõ được tiền thân,
Xin thầy vẹt bóng mây vần cho coi.”
Ngài dùng tuệ nhãn chiếu soi
Tiền thân của vị vua trời hiện đây.
Bên rừng giữa mấy lùm cây,
Tuyết còn ủ một xác gầy trơ xương.
Trí vua liền sạch mây vương,
Bấy giờ mới được tỏ tường tiền thân.
Cũng nhờ thiền lực oai thần,
Bỏ thân nghèo khổ tìm thân cõi trời.
Lòng vua thương cảm bồi hồi,
Chư tiên bay lại dâng lời hỏi han.
Mây năm sắc kết xe loan,
Vua cùng ngọc nữ, các quan thiên đình
Xuống trần đúng chốn rừng xanh,
Nửa đêm tỏa sáng long lanh diệu vời.
Chiên đàn gỗ chất chơi vơi,
Xác kia lại đặt trên nơi lửa bừng.
Khói thơm đưa khắp miệt rừng,
Hoa tiên trải cúng mấy từng mây vương.
Các nhà đây đó trong thôn
Nhận ra ánh sáng, hương thơm huy hoàng.
Hoa trời theo gió chiên đàn,
Trông như thấp thoáng tơ vàng từng mây.
Lại nghe nhã nhạc đó đây,
Thiên tiên rực rỡ trùng vây ánh hồng.
Vội tin khắp Bắc, tây, đông,
Người người ra chật ruộng đồng ngắm coi.
Bảo nhau “vạn kiếp muôn đời
Dễ gì gặp được người trời xuống đây!”
Bấy giờ từ chỗ xe mây,
Vua trời Đao-lợi giãi bày trước sau:
“Tiền thân cuốc bẫm cày sâu,
Duyên may gặp pháp nhiệm mầu Phật Tăng.
Trường trai mười giới thường hằng,
Tiến tu qua mấy mùa trăng đã thành.
Được lên ở chốn thiên đình,
Là nhờ kiếp trước đinh ninh nguyện cầu.
Nhân nào quả đó theo nhau,
Tu thân nào kể bạc đầu, tuổi xanh.
Giờ đây gọi chút duyên lành,
Thiên tiên gặp khách phàm trần phút giây.
Đền ơn Phật pháp sâu dày,
Gọi là câu chuyện thức người tham mê.
Ai không sợ lúc hồn lìa,
Luân hồi sáu ngả vẹn bề nhân duyên.
Hãy lo cội phúc hiện tiền,
5.700.  Đừng lo quả phúc nhân thiên sau này.
Gieo nhân hẳn sẽ có cây,
Khổ vui cũng một thân này buộc thân.
Nay đông mai hẳn sang xuân,
Có trời thì hẳn mười phần có ta.
Khi mê phúc tội Hằng sa,
Tỉnh mê tội phúc như hoa bóng trời.
Dù thân dưới ngục ba đời,
Cũng là thanh tịnh cõi trời Hóa thiên.
Trùng trùng duyên khởi nhân duyên,
An vui cũng đó, ưu phiền cũng đây.
Tỉnh lòng chẳng một phút giây,
Thiện tâm bừng khởi cũng đầy tam thiên.”
Nghe xong gió não sóng phiền,
Tan khi vừng nguyệt hiện lên chiếu ngời.
Chim bay man mác lưng trời,
Nhân thiên như bóng mây rời rừng kia.
Như nghìn suối cuộn pha lê,
Như sông giục nước tìm về vườn sương.
Xa trông ánh sáng dị thường,
Hào quang của đấng Pháp vương trời người
Như đêm biến hiện mặt trời,
Như ba cõi nở nụ cười trí bi.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam