15.00
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 25/04/2010 17:55

Ngày xưa trong xóm Trầm Hương,
Từng đôi cò đậu trên đường tre xanh.
Chân non suối lụa viền quanh
Nhịp cầu trúc nhỏ uốn ngành kiêu sa.
Là nơi trang trại cúc hoa
Của một dật sĩ khề khà thu đông.
Ngày ngày trồng cải ươm bông
Hoặc chôn mấy hũ rượu hồng đợi xuân.
Con ông tên gọi Thanh Vân,
Tuổi vừa đôi tám đương ngần đào tơ.
Nghiêng nghiêng tóc xỏa vai bờ,
Đêm đêm dệt sợi hững hờ gió bay.
Một chiều hong lụa suối tây,
Dòng xanh xanh nhận chìm mây vàng vàng.
Lưng trời xao xác chim sang,
Tiếng như lá rụng trên giàn thiên thanh.
Nàng nghe thiền trượng khua gần,
Nhà sư vân thủy dừng chân cổng ngoài.
Như hoa tuyết phủ đôi mày,
Dáng đâu hạc nổi từng mây hiện về.
Sư rằng “hong lụa tơ kia,
Sao còn chiếc áo Bồ-đề chẳng phơi?”
Nàng thưa “từ thuở ra đời,
Chưa từng thấy áo như lời thiền sư.”
Sư cười: “vẫn ngủ say ư?
Y nương từ thuở bao giờ đã quên.
Hãy mang thuốc đến làng bên
Cứu người đang bệnh, biết liền áo đâu.”
Lời như tia sáng nhiệm mầu
Chiếu vào trong cõi trời sâu u huyền.
Nàng theo lời đến làng bên,
Rừng cao thú vọng sương đêm mịt mù.
Nguyện rằng đã mấy năm tu
Thượng cầu hạ hóa cho dù tan thân.
Đời đời nối mãi dòng chân,
Là dòng hoa nở cõi trần ngậm hương.
Bỗng dưng Vân thấy bên đường
Hiện ra cửa động kim cương chói lòa.
Xuyên mây lầu tháp muôn tòa,
Quanh quanh đường cuộn bờ hoa ngát trời.
Nhạc ca cung điệu lả lơi,
Đèn sao muôn dặm chiếu ngời hào quang.
Nội hoa đồng cỏ mênh mang
Bên dòng nước biếc đôi hàng liễu tơ.
Soi dòng, nai nhỏ ngẩn ngơ,
9.050.  Thinh không hạc trắng lững lờ vờn bay.
Dưới bờ hoa tím tầng cây,
Thuyền ai buông giữa dòng mây gác chèo.
Vẳng đâu tiêu khúc dặt dìu
Tơ vàng theo gió như chiều mưa giăng.
Rẽ hoa chợt thấy ba nàng
Từ trong cửa động dịu dàng bước ra.
Cánh hồng nhường thẹn làn da,
Giọng xuân ríu rít như là oanh kêu.
Tóc đôi dòng cuộn mây chiều,
Bước đi chầm chậm dặt dìu hái tơ.
Tới bên nàng cất tiếng thưa:
“Hôm nay sao lại tình cờ gặp nhau?
Hay là duyên nghiệp từ lâu,
Xin dừng bước để ít câu chuyện trò.
Chúng mình thân tự đời xưa,
Em tiên, chị tục, bây giờ nhận ra.
Này đây điện ngọc lầu hoa,
Này đây suối cuộn mây sa bờ đào.
Chị em ta hãy cùng nhau
Dắt tay dạo nguyệt bên bờ liễu tơ.
Nhìn trời họa mấy vần thơ,
Khơi trầm thanh tịnh, bày cờ thiên thai.
Nơi đây cảnh trí Bồng Lai,
Sông đào còn đợi tay ai dạo thuyền.”
Ngọt ngào thay giọng người tiên,
Nhưng Vân đã nguyện lẽ quên được nào.
Đành thưa: “xin tạ lòng nhau,
Duyên may được gặp, dám đâu khước từ.
Nhưng vì hứa với thiền sư
Cứu người bệnh khổ, chần chừ được sao.
Mai sau mong có dịp nào
Qua đây, sẽ lại xin vào tạ nhau.”
Nói rồi nhẹ gót đi mau,
Vì còn hình ảnh đớn đau nằm chờ.
Lại xa trong đám bụi mờ,
Có ba quỉ hiện đứng chờ một bên.
Hầm hừ cầm búa giơ lên
Hỏi “sao mi dám qua miền động ta?”
Trả lời: “khắp cõi trần sa,
Thân còn chẳng có nữa là cõi riêng.
Tôi vì trợ đạo hóa duyên,
Cứu người tật bệnh dù đêm ngại gì.
Qua đây để đến làng kia,
Nếu ông cần mạng, lúc về tôi dâng.”
Nghe xong ba quỉ bẽ bàng
Bước đi, lại hiện ba nàng liễu mai:
“Chúng em vừa thử lòng người,
Quả nhiên nguyện lớn chuyển dời được sao.
Hiện ra động ngọc non đào,
9.100.  Hiện làm ác quỉ: chị nào đổi thay!
Giờ xin giới thiệu em đây
Là mê, tham, giận, hiện bày đó thôi.
Khiến người chín nẻo luân hồi,
Khiến người bể khổ nổi trôi bọt bèo.
Bây giờ lòng nguyện xin theo
Hộ trì chính đạo một chiều chẳng sai.
Em xin tặng chị bùa này
Phá tan nghiệp mệnh trần ai khó gì.”
Nói rồi phá đám mây đi,
Trời cao như cõi lưu ly tỏ ngời.
Thôn bên nàng đã tới nơi,
Thuốc đem giải độc cho người đớn đau.
Lần hồi kẻ trước người sau,
Bao nhiêu bệnh não tham sầu sạch băng.
Lối về vượt mấy cầu trăng,
Non xa mây phủ, sông giăng khói mờ.
Lòng này không vực không bờ,
Như mây vô trụ hững hờ từng cao.
Như chim hoàng hạc non đào
Phiêu bay muôn cõi khác nào bóng hoa.
Mây hồng đã hiện vừng xa,
Sông tây chênh chếch gương ngà nhạt soi.
Đường sương lóng lánh tía ngời,
Bước chân vô ngại, cõi đời đua tranh.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam