Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 03/02/2010 17:44

3.300. Đức vua cùng với quần thần quản chi.
Có hôm trong buổi triều nghi,
Ngài khuyên văn võ hướng về đạo chân.
Trị người cốt dẹp mê sân,
Tuyên dương chánh pháp, tự thân hành trì.
Diệt an mầm cội tham si,
Nước dù muôn cõi khác chi một nhà.
Ngoài hiên có vị chúa ma,
Nổi lòng đố kỵ nghĩ ra mẹo lừa.
Giả ban các chiếu chỉ vua,
Thu hồi luật thiện, bênh hùa ác tham.
Khiến dân sinh dạ oán than,
Ma xui thành cuộc tương tàn đó đây.
Đức vua nghe báo tin này,
Tiến binh muôn dặm, xem ngay sự tình.
Chẳng bao lâu, tỏ ngọn ngành,
Nơi nơi lại cảnh thái bình an dân.
Đường về qua bến phù vân,
Sóng gầm đáy nước, mây vần núi cao.
Vẳng nghe sầu oán âm hao,
Tiếng rên thảm thiết khác nào khảo tra.
Lệnh truyền quân mới tìm ra
Một người lửa phỏng khóc la rợn mình.
Đớn đau quằn quại thân hình,
Truyền đem cứu chữa, cạn tình hỏi ngay.
Vua rằng “vì cớ chi đây,
Ai thiêu ném dưới hàng cây bên đường?”
Ma rằng “quả báo tai ương,
Vì con tu thiện lại thường khuyến dân,
Khiến đời dẹp bỏ tham sân,
Tội người trút xuống một thân đền bồi.
Người thì phúc lạc cõi trời,
Còn tôi ngục lửa đời đời mang thân.
Đớn đau khổ cực muôn phần,
Bây giờ hối lại bao lần khóc than.”
Vua rằng “xin chớ bi quan,
Giúp người dứt sạch mê tham được rồi.
Tiếc chi thân xác bèo trôi,
Nổi nênh bể khổ luân hồi chơi vơi.
Một tay này cứu muôn người,
Ngục kia nào khác cõi trời Hóa thiên.
Ta đây sớm phát lời nguyền
Cứu muôn loài thoát ưu phiền khổ đau.
Giả thân này có thế nào,
Muôn đời ngục lửa xin vào một ta.”
Lời hiền tỉnh thức lòng ma,
Biến thân đi giữa giang hà sóng êm.
Ma vương cũng phát tâm nguyền,
Tạo muôn nghịch cảnh trợ duyên giúp đời.
Đường lên cho được tuyệt vời,
3.350. Lấy ác ngăn ác cho người tiến tu.
Thế rồi dân cõi Diêm-phù,
Đẹp thân, khẩu, ý đền bù thiện duyên.
Chính pháp lan đến muôn miền,
Nghiệp chung hóa hiện kim luân rõ ràng.
Xe pháp tỏa chiếu hào quang,
Đưa vua đi khắp trần hoàn trợ duyên.
Thi-di kiếp đó danh hiền,
Bây giờ là Tịnh-phạn vương tại trào.
Hoàng hậu thuở trước lạ đâu
Giờ là thân mẫu sớm mau về trời.
Bửu Quang chuyển pháp nơi nơi,
Khiến đời an lạc giúp người thiện tu.
Trải bao cõi mộng Diêm-phù,
Hóa khai chính đạo cho dù thiệt thân.
Tướng lành nổi ở bàn chân,
Hai vành xe chuyển pháp luân sáng ngời.
Là nhờ tích thiện muôn đời,
Thanh cao như ngọc, tuyệt vời như hoa.”
Bấy giờ hoàng đế Bình-xa
Thêm lòng thâm tín đứng ra tỏ bày:
“Nhân duyên giăng mắc cõi này,
Kiếp xưa ngoại đạo chẳng hay nghiệp gì?
Đắm chìm sân hận mê si,
Vu miệt chính pháp từ bi, lẽ nào?
Xin Ngài soi ánh bạch hào,
Cho người đắm giấc mơ đào rõ hay.”
Phật rằng “vô lượng kiếp đây,
Vua Lê Lợi trị cõi này trang nghiêm.
Vương phi bao vị như tiên,
Đều chưa thai nghén lo phiền như nhau.
Vua thường tạo phúc nghiệp sâu,
Mở kho bố thí, tìm cầu đạo chân.
Ngài luôn lấy đức trị dân,
Nước nhà cường thịnh muôn phần an vui.
Ngày kia có một vua trời,
Cùng vì cảm mến đức ngời nhân vương.
Hóa thân ra một người thường,
Lưng đeo bồ thuốc tìm đường vô kinh.
Quì trước điện ngọc tâu trình,
Xin chữa hoàng hậu hạ sinh con hiền.
Lão rằng “thuốc tự núi tiên,
Phải pha bằng máu một nghìn trẻ trai.
Nếu được chấp nhận, thưa ngài,
Truyền quân lùng bắt sáng mai mang về.”
Nghe qua nét mặt ủ ê,
Hại người để lợi một bề riêng sao!
Vua truyền “trẫm chẳng thể nào
Vì mình mà khiến máu đào nhuốm tay.
Thôi thì cảm tạ ơn thầy,
3.400. Chẳng tiếc công xuống chốn này giúp nhau.
Ta đành tuyệt tự mai sau,
Hơn để kẻ khác thảm sầu mất con.”
Ý vua đã vững như non,
Sóng thần chẳng chuyển, ai còn uổng công.
Bấy giờ một đám mây hồng
Bay vào tụ giữa thềm rồng lạ thay.
Kết thành một cỗ kiệu mây,
Sương đan rèm ngọc, khói xây mái đình.
Vị lang y hiện nguyên hình
Là vua Đế-thích hoan nghinh bực hiền.
Thưa rằng “tôi trị cõi tiên,
Đức ngài cảm đến muôn miền trời xa.
Mến tình mới hóa thân ra,
Xuống đây thử lửa xem là vàng thau.
Quả nhiên chói lọi bảo châu,
Hẳn ngài sẽ được con sau nối dòng.”
Trao bồ thuốc trước thềm rồng,
Trắng phau hoa tuyết, phớt hồng cỏ tiên.
Dặn rằng “lấy nước sắc liền,
Uống vào tất có người hiền nối ngôi.”
Chia tay giọng những bồi hồi,
Động hoa vàng tất có hồi tìm nhau.
Thiên vương vào kiệu trân châu,
Hóa ra một nội hoa mầu bay lên.
Vua truyền sắc cỏ hoa trên
Đưa các phi hậu uống liền xem sao.
Chính cung nghĩ chẳng tin nào
Nên không chịu uống, sầu bào lòng thôi.
Khi nghe đều đã thụ thai,
Vội truyền tìm bã thuốc hoài bỏ đi.
Uống vào như các thứ phi,
Lạ thay cũng kịp một thì khai hoa.
Nhưng khi hoàng hậu sinh ra,
Nhìn con, lòng tủi lệ sa giọt ngời.
Trẻ đâu có dáng lạ đời,
Xấu như quỉ sứ nhà trời gớm ghê.
Trong khi con các vương phi
Thu nghiêng mắt biếc, xuân kề môi tươi.
Tóc như mây hạ buông lơi,
Tiếng như suối ấm vừa rời nguồn sa.
Thái tử tên gọi Lê Ba,
Vua truyền giao trẻ riêng nhà dưỡng nuôi.
Tránh nhìn nửa quỉ nửa người,
Tránh cho thiên hạ bia cười dèm chê.
Dần dà năm đến năm đi,
Anh em thái tử đến kỳ lớn khôn.
Cầm quân trấn giữ biên cương,
Một triều thịnh trị bốn phương thái hòa.
Bỗng đâu có việc can qua,
3.450. Giao tranh cùng nước Tân-la láng giềng.
Khói bay lửa ngút ải biên,
Bao nhiên dũng tướng, con hiền chạy thua.
Giặc như nước lũ tràn bờ,
Đạp tan thành quách dựng cờ xâm lăng.
Tin như sét đánh vương thành,
Lê Ba thái tử một mình xin đi.
Tục truyền Thiên tự xưa kia,
Còn cây cung lớn lượng vừa muôn cân.
Từ thời vua Chuyển thánh luân,
Dùng bảo vật nọ trấn quân bạo tàn.
Trải bao mây nổi hợp tan,
Cây cung quốc bảo còn truyền tới nay.
Sức người nào thể chuyển lay,
Vào chùa, thái tử một tay xách kề.
Dương lên sấm động bốn bề,
Gió to sóng lớn dâng về trợ oai.
Giặc nghe phách lạc hồn bay,
Trăm thành thu lại không đầy tấc gang.
Vua Tân-la đến xin hàng,
Giữ tình giao hảo, lân bang vui vầy.
Thế là truyền khắp Đông Tây,
Tin thiên tướng xuống cõi này yên dân.
Vua cha bàn với triều thần,
Tính bề gia thất muôn phần khó khăn.
Người còn chẳng dám lại thăm,
Nói gì đến chuyện gối chăn sum vầy.
Đình thần có vị tâu bày,
Nghe có công chúa thơ ngây liễu đào.
Hoa còn vườn kín lầu cao,
Dưới trên hiếu thuận, ra vào đoan trang.
Nàng vừa tới tuổi tròn trăng,
Con vua Thế tổ láng giềng nước kia.
Cử nghinh hôn lễ đón về,
Rồi ra tráo rể đôi bề vẹn đôi.
Một mai ván đóng thuyền rồi,
Quen hơi bén tiếng cũng thôi ngại gì.
Vả danh tiếng ấy ai bì,
Yêu tài là nết nữ nhi nặng tình.
Cứ mang lễ đến tâu trình,
Mượn em đón chị, sẽ thành đẹp đôi.
Thuận cho, nào quảng xa xôi,
Chuyện mai mối để thần tôi liệu bài.
Vua truyền sửa lễ lựa ngày,
Hai xe gấm ngọc, cậy tay đại thần.
Bồi hồi ngó đợi tin xuân,
Chẳng bao lâu đã nghe quân báo về.
Thế là cờ dựng tàn che,
Lầu cung hoa kết ngựa xe nạm vàng.
Dẫu rằng phượng chửa biết loan,
Đã đinh ninh kết đá vàng duyên xa.
Kiệu rồng rước đến thềm hoa,
Cung phi ngọc nữ kéo ra lạy mừng.
Đêm vui đèn lửa tưng bừng,
Dập dìu nhạc cử vang lừng pháo vui.
Tiệc tan, trò chuyện đôi hồi,
Tân nương càng mến nết người tân lang.
Từ đây, chỉ những đêm trường
Cạnh nhau, sáng lại vắng chàng, thấy đâu!
Nàng than “đêm chóng ngày lâu,
Mặc ai mặt héo tâm sầu mặc ai.”
Chàng rằng “yên ngựa miệt mài,
Biên cương muôn dặm, một tay binh quyền.
Lòng thì canh cánh bên em,
Mà vì trăm họ, giữ yên nước trời.
Mộng xuân còn lắm tuyệt vời,
Rồi ra loan phượng trọn đời sánh đôi.
Thiếu chi trăng gió bồi hồi,
Khi thuyền soi nước khi đồi dạo mây.
Bấy giờ yên đó vẹn đây,
Nước non thịnh trị vui vầy muộn chi.”
Một đêm thiêm thiếp xuân thì,
Rèm tơ vẳng tiếng đàn tỳ nhẹ lay.
Nhớ quê biền biệt bấy ngày,
Giờ nghe sương động, vơi đầy giọt hoa.
Tưởng ngày dưới gối mẹ cha,
Tưởng khi đuổi bướm la đà vườn riêng.
Tưởng trang sách dưới tay mềm,
Tưởng hồ ẩn nguyệt dong thuyền gió thu.
Bây giờ còn áng mây đưa,
Còn trăng lữ thứ nhẹ đưa tiếng nào.
Nàng ngồi dậy, hé rèm đào,
Nghiêng song thu, nguyệt chiếu vào phòng hương.
Tựa nhìn man mác vườn sương,
Quê xưa kìa mảnh sao thường dõi theo.
Lòng đương trăm mối nghìn chiều,
Nhìn chàng nằm đó thiu thiu giấc hoè.
Nhạt mờ sau lá màn the,
Ánh trăng hờ hững soi kề gối bên.
Quay vào nhẹ vén màn lên,
Dung nhan sớm nọ đã in những ngày.
Dưới trăng giờ tỏ mặt này,
Bộng tan hồn quế rời tay liễu đào.
Người đâu vóc dáng lạ sao!
Gục bên song cửa nao nao điếng người.
Trước kia anh tuấn tuyệt vời,
Mà nay như quỉ nhà trời xuống đây!
Trước sao mày phượng tóc mây,
Giờ sao dị tướng thế này hỡi ơi!
Hẳn ai mưu kế thay người,


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam