Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 23/01/2010 18:04, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vodanhthi vào 24/01/2010 17:49

Xưa, miền núi đó đẹp vui
Bên sông uốn khúc in trời như tranh.
Có người trưởng lão hiền lành
Dựng nhà bãi núi, vườn xanh bốn mùa.
Ngày vui xới đất trồng hoa,
Vuốt râu cười giữa Ta-bà khói sương.
Khi trà dưới rặng liễu dương,
Khi rong thuyền rượu dõi đường đào nguyên.
Và khi theo Phật hóa duyên,
Bước chân mầu nhiệm khắp miền thanh sơn.
Lại cùng Tăng chúng ngắm sương,
Câu thơ xướng họa trong vườn hồng mai.
Hiếm hoi cầu tự khắp nơi,
Mới được một gái tuyệt vời sắc hương.
Sinh ra mang dấu lạ thường,
Cổ ngà có sợi tơ vàng quấn quanh.
Sợi vàng tỏa sáng long lanh
Ba ngày, tự lúc Vân Anh chào đời.
Mẹ cha quý trọng tơ trời
Như sợi chỉ mảnh mà dai vô cùng.
Dẫu khi tắm rửa, bế bồng,
Dẫu khi nghịch dứt đều không hề gì.
Tháng ngày thơ ấu trôi đi,
Đường hoa nâng gót xuân thì dậy hương.
Tuổi vui đuổi bướm trong vườn,
Gió say vuốt cặp má thơm ửng hồng.
Đào thơ môi hé cánh nhung,
Mắt huyền thu cả dòng sông khuynh thành.
Đất hiền chung đúc tinh anh,
Vườn cao rực rỡ một cành kiêu sa.
Rào xuân ong bướm khó qua,
Đã nhiều anh tuấn phương xa, chốn gần
Cậy người mai mối cầu thân,
Mà khuê trang vẫn chưa lần thuận nghe.
Lòng băng còn mãi hướng về
Nẻo đường tế độ, xa lìa trần lao.
Những đêm lặng ngắm trăng sao,
Những ngày thoáng cánh chim cao vượt ngàn,
Là tâm lại thấy mang mang,
Nỗi thương xót chốn đoạn tràng những ai.
Một hôm nàng mới thưa lời,
Xin cha mẹ dẫn đến nơi đạo trường.
Song thân nghe biết ý nàng,
Mừng khen con trẻ chọn đường lợi tha,
Nên cùng lựa trái, đơm hoa,
Thắng xe bốn ngựa hồng ra lễ đài.
Núi xanh thả gió theo người,
5.450.  Triền xanh lau lách bồi hồi tiễn đưa.
Tùng lâm mây biếc thướt tha,
Hoa leo vàng nở đơn sơ mái hiền.
Dưới cây từng bệ đá thiền,
Hàng hàng Tăng lữ trên thềm tọa không.
Dáng như đá động trầm truông,
Dưới hoa thoảng mấy lò hương ngạt ngào.
Gặp Phật gieo hạt bên cầu,
Y tơ thấp thoáng như màu triêu dương.
Vân Anh quì xuống bên đường,
Nắng soi hạt biếc lá vương diệu vời.
Thưa: “con như hạt mưa rơi,
Phúc duyên đậu chốn tỏ ngời đài hoa.
Như mây tha thướt nắng tà,
Giờ xin quyết chí xuất gia tu hành.
Để sao nghiệm được chân tâm,
Nguyện về chuyển nghiệp mê lầm trần gian.
Cứu người trong kiếp nguy nan,
Tùy phương diệu dụng Niết-bàn mở khai.”
Miệng xinh vừa ngỏ hết lời,
Vòng tơ xưa bỗng lại ngời hào quang.
Long lanh bao tỏa thân nàng
Rồi tơ lại hóa lụa vàng pháp y.
Trước bao mắt thấy lạ kỳ,
Phật truyền cho một lão ni dẫn về.
A-nan dưới cội hoa lê
Thấy người khai ngộ chuyển mê lạ lùng.
Uy nghi như cánh chim hồng
Đạp mây vỗ cánh vượt vòng trần lao.
Bèn thưa: “nghiệp mệnh ra sao,
Sợi tơ bỗng hóa pháp bào lạ thay?”
Thế tôn kể chuyện: “Trước đây
Tỳ-bà Phật xuống cõi này mở khai.
Nơi thôn kia có hai người
Vợ chồng nghèo khó sống đời xác xơ.
Chỉ còn một bộ vải thô
Thay nhau mặc lúc cần đồ che thân.
Chồng đi cày mướn kiếm ăn
Thì vợ đóng cửa ở trần, biết sao!
Đến ngày, bên triền núi cao
Có Phật về độ, tin vào thôn kia.
Chồng mượn quần áo đem về,
Hai người mới rủ nhau đi đón mừng.
Non mai lác đác chim rừng,
Vùng quanh kéo đến tưng bừng hội vui.
Trên tòa đá dựng chơi vơi,
Đức Từ bi ngự, ban lời độ tha.
Ngài khuyên: “cứu giúp người ta,
Với lòng thương xót, chính là thiện căn.
Thương người như thể thương thân,
5.500. Chẳng còn bờ vực ngã nhân chia lìa.
Giúp người tỉnh thức huyễn mê,
Giúp người hết sợ, mọi bề bình an.
Giúp người đói khát miếng ăn,
Giúp người hiểu biết nghĩa nhân với người.
Chia tiền, sẻ của mà vui,
Giàu nhiều, nghèo ít, tùy nơi sức mình.
Nay hằng gây các nhân lành,
Mai sau cõi thế quyền danh, ngọc ngà…”
Vợ chồng như nở lòng hoa,
Về thôn gặp một cụ già ăn xin.
Gầy khô, rách rưới thảm phiền,
Tựa ngoài vách đất, lặng yên cúi đầu.
Xót xa, người vợ hỏi chào,
Rồi vào gài cửa, cởi trao áo quần.
Rằng “tôi thấy lão một thân,
Thành tâm nhường giúp manh quần áo đây.
Xin người nhận tấm lòng này,
Đó là pháp Phật hiện bày chính chân.”
Cụ già đứng nghĩ phân vân:
”Vợ chồng này cũng manh quần mặc chung.
Cho ta biết lấy gì dùng,
Lấy gì che nắng che sương lần hồi.
Cửa kia đã đóng chặt rồi,
Mà lòng bố thí cõi trời mang mang.
Người vì trí Phật, pháp vàng,
Thì ta đem vải cúng dàng lên Tăng.
Lòng kia rực rỡ sao trăng,
Khiến mình vượt thoát nghèo nàn tiến tu.”
Thế rồi tâm niệm nam mô,
Đường xa, tìm đến bên hồ nguyệt soi.
Phật cùng tứ chúng người người,
Đuốc hồng như thể chân trời sao sa.
Cụ kia chẳng quản thân già,
Bên thềm dâng bộ vải thô ra trình:
”Nhờ ơn Tam bảo chứng minh,
Dẫu nghèo cực vẫn giàu tình nghĩa thay!”
Phật rằng “sau kiếp vị lai,
Phúc nhân bể rộng sông dài nào hơn.”
Nghe qua pháp hội vui mừng
Tâm kia như thể hương rừng chi lan.
Trong thành, trưởng giả, vua, quan
Đều thương quý tấm lòng vàng biết bao.
Cùng nhau tiền của góp vào,
Tìm đôi nghèo nọ để trao, gọi là…
Lại cho thóc giống gieo mùa,
Từ tâm khiến cả gió mưa thuận hòa.
Lộc vua ban khắp nhà nhà,
Núi non thôn xóm ngợi ca đức hiền.
Cũng nhờ gặp đại nhân duyên,
5.550. Hạnh lòng bố thí, dâng lên cúng dàng.
Dù muôn ức kiếp bụi vàng,
Vào ra tơ báu thường mang bên mình.
Kiếp này như cánh phượng linh,
Tâm mầu hé mở bình minh cõi người.
Như hoa linh thoại trong đời,
Thiên thu nguyên khối vàng ngời ngọc hoa.
Như trầm xông cõi Ta-bà,
Mười phương pháp giới cũng là trang nghiêm.”
Trong rừng thoảng tiếng chim khuyên,
Nghe xong bể não non phiền sạch không.
Trông ra mấy cội đào hồng,
Ngàn cây đơm ngọc, mấy đồng tuyết hương.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam