Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 18/05/2010 18:41

Đạo này chẳng hiểu từ đâu truyền vào.
Thấy cha thấp thoáng song đào,
Nàng ra khép nép cúi chào lão thân.
Ông rằng “ta đang phân vân,
Vì nghe thuyết giảng trăm phần lạ tai.
Chẳng hay con học nơi ai
Mà thông lý đạo tuyệt vời biết bao?”
Nàng thưa “đức Phật tối cao,
Bên thành La-duyệt như hào quang soi.
10.800.  Hiện về giáo hóa trời người,
Tình thương rộng nở thắm tươi muôn vàn.
Năm xưa, cha con tìm sang,
Cho con theo đến dâng nhang đạo trường.
Thật là mầu nhiệm dị thường,
Tiếng Ngài khai mở trăm đường trí bi.
Lời trong như suối lưu ly,
Phá tan tập kiến tham si cõi lòng.
Đưa về mối đạo trắng trong,
Như ao sen nở cánh bông thơm ngần.
Vua, quan, cho đến tiện nhân,
Theo về tu học chẳng phân sang hèn.”
Ông rằng “cha đã nghe tên
Đức ngài trải rộng muôn miền gần xa.
Nhưng cha chưa có kịp qua.”
Nàng thưa “nếu gặp Phật-đà nghe kinh,
Là đi tìm gặp chính mình,
Bước chân vượt cõi giả hình tù giam.
Dù cho vô lượng ngọc vàng,
Chẳng bằng chân bước qua đàng vọng mê.”
Lời con như gió thoảng về,
Lòng ông quyết đến nước kia cầu hiền.
Đêm nằm mơ thấy chư tiên
Từ cung trời xuống quanh miền gieo hoa.
Dựng lên san sát muôn tòa
Lầu vàng gác ngọc như là thiên cung.
Tàn hoa, phướn gấm trùng trùng,
Lại thêm quỉ dữ khắp vùng reo vui.
Mừng rằng pháp Phật diệu vời
Khiến cho muôn loại thoát nơi ngục tù.
Từ đây nơi cõi Diêm-phù
Rạng thêm trí tuệ thiên thu sáng ngời.
Pháp vương mỗi ý mỗi lời,
Là hoa mười cõi tuyệt vời trổ bông.
Giật mình, trời đã hừng đông,
Ra đi ngựa vượt mây hồng non cao.
Hành trình hơn một tháng sau,
Tu-đạt đã đến rừng đào thành La.
Ông vào dưới mái nhà hoa,
Gió trầm hương lẫn chim ca diệu kỳ.
Chung quanh người khoác hoàng y,
Thanh cao ánh mắt, từ bi nụ cười.
Ngồi trên chõng trúc một người,
Uy nghi phúc tướng tuyệt vời thế gian.
Dường như cảm ánh từ quang,
Chim rừng cất tiếng cây ngàn trổ hoa.
Mắt ngài trìu mến thiết tha,
Lời như gió thoảng đưa qua rừng trầm.
Lòng ông gội sạch mê lầm,
Dưới thềm thấm giọt từ âm tỉnh người.
10.850.  Nghe xong, lễ Phật, thỉnh mời,
Đón sang Xá-vệ là nơi cõi ngoài.
Nguyện về thiết lập pháp đài,
Dựng nhà tinh xá, rước Thầy qua sau.
Thỉnh xong, từ tạ cúi đầu,
Lên yên giục ngựa qua cầu mây xanh.
Núi xa như mở quách thành
Cheo leo đường cũ tươi nhành sương un.
Về phương lởm chởm mây đùn,
Ngựa tung vó tuyết cũng vùn vụt qua.
Mùa sau đã tới quê nhà,
Cỏ cây hớn hở, trẻ già mừng vui.
Đức vua cũng ngự tới nơi,
Hỏi xem Phật có như lời xưa nay.
Hàn huyên tôi chúa bàn ngay,
Quyết lòng hóa chuyển cõi này từ bi.
Ông tìm đất nọ đất kia,
Làm tinh xá đón Phật về hóa duyên.
Đã tìm khắp cả quanh miền,
Chẳng đâu là được như niềm ước mong.
Sau cùng còn đất cửa Đông
Có đồi có suối đơm hồng trăm hoa.
Là vườn thái tử Kỳ-đà,
Làm sao chuốc được để mà hiến dâng.
Đất này thái tử ưng dùng,
Bao năm gìn giữ chẳng từng nhượng ai.
Quyết lòng ông cứ sang chơi,
Hỏi mua vườn để dựng đài truyền hương.
Kỳ-đà thách: “tôi sẽ nhường
Cho ai đem trải kín vàng đất kia.”
Tưởng ông thất vọng trở về,
Ai ngờ sáng dậy bốn bề vàng tươi.
Mênh mang mấy dặm chói ngời
Phủ trên vườn nọ như lời ước giao.
Kỳ-đà kinh ngạc biết bao,
Chẳng hay oai đức vị nào gớm ghê.
Khiến ngài Tu-đạt thôn kia
Phát tâm dâng cúng, chẳng nề vong gia.
Giờ còn muôn gốc đào hoa,
Mình xin dâng nốt, vậy là xong xuôi.
Để chung công đức với người
Dựng đàn, tìm được một nơi như lòng.
Tu-đạt hoan hỉ vô cùng,
Rồi đêm mơ thất một vùng hồng soi.
Bao nhiêu thần thánh quanh người
Đốt hương khen tặng bao lời ngợi ca.
Sáng sau phơn phớt mây pha,
Hoa đâu rụng xuống quanh nhà như mưa.
Kẻ hầu vào khẽ quì thưa:
“Có người xa đến áo như mây hường…”
10.900.  Ông ra phòng khách vội vàng,
Thấy ngài Xá-lợi-phất đang ngồi chờ.
Phật cho đệ tử Phật qua
Giúp ông trong việc dựng tòa trầm nhang.
Tin hay đi khắp nẻo đàng.
Bây giờ ngoại đạo xốn xang vào hùa.
Đến xin yết kiến nhà vua,
Xin ngăn Tu-đạt dựng chùa núi Đông.
Lại đòi tỉ thí thần thông,
Nếu Phật không thắng thì không được vào.
Dù cho rằng đạo thế nào,
Cũng xin đọ thử thấp cao mới rồi.
Chìu dân, vua cũng thuận lời,
Định ngày tỉ thí cho mời đôi bên.
Ngoài thành truyền dựng đài lên,
Đến kỳ đại biểu hai bên trổ tài.
Hôm sau khai mở lễ đài,
Thành trong cho đến thôn ngoài kéo xem.
Ngoại đạo quyết lòng đua chen
Phô trương thanh thế múa men đủ trò.
Thôi thì tiếng nhỏ tiếng to,
Áo quần loè loẹt quanh lò hương bay.
Bỗng dưng thấy chiếc tàn mây
Che ngài Xá-lợi dưới đài bước lên.
Đạo trường bốn phía lặng yên,
Ngẩn trông oai đức trang nghiêm khác thường.
Nắng pha sắc áo mây hường,
Lưng trời thêm chiếc tàn hương lạ kỳ.
Hiền hòa, giải thoát dung nghi,
Hào quang theo bước chân đi tỏa ngời.
Khắp phương ngoại đạo rụng rời,
Lúc sau mới cử một người tài ba
Thổi lên lớp lớp mù sa,
Tàn mây kia bỗng hóa ra mặt trời.
Tỏa soi khắp cả nơi nơi,
Mù sương tan loãng thành hơi biến dần.
Lạ thay định lực oai thần,
Lòng người như sạch bụi trần thênh thang.
Thuật tà đó mới bị tan,
Lại người niệm chú hóa tàn cây cao.
Mặt trời giờ hiện tán đào,

(Mời xem tiếp ở phần 3)


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam