Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 25/01/2010 08:21, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi Vodanhthi vào 27/01/2010 17:14

Thời xưa ở trại phù vân,
Có giàn thiên lý thơm ngần đơm hoa.
Bốn mùa thu lại xuân qua,
Chim về ăn trái quanh nhà hồng mai.
Chủ nhân sinh được một trai,
Trong ngày sương kết thành đài hoa rơi.
Lại thêm mấy cánh hạc trời,
Múa kêu đôi tiếng tuyệt vời rồi đi.
Mưa hồng ngọc, bụi lưu ly
Trải quanh nhà cỏ lạ kỳ ai hay.
Trẻ kia mắt phượng mày ngài,
Vẻ đem so khắp, trần ai khó bằng.
Đón thầy thường trụ Chùa Tăng
Xuống xem tướng, đặt tên chàng Bảo Thiên.
Thầy rằng: “tích đức tu hiền,
Trẻ này hẳn có phúc duyên tột vời,
Làm cho gia thế rạng ngời.”
Dạy rồi chống gậy, chân rời thôn hoa.
Vèo thôi đông tới thu qua,
Bảo Thiên khôn lớn, một nhà mừng vui.
Mắt như kiếm ảnh sáng ngời,
Mũi cao ống trúc, môi cười ngậm hoa.
Tính hiền ái ngữ nhan hòa,
Hết vào binh lược, lại ra thơ đề.
Danh thơm truyền khắp sơn khê,
Bao nhiêu danh sĩ tìm về kết giao.
Làng thôn nổi tiếng kiệt hào,
Cứu người thương vật, xá nào lụy thân.
Một ngày nhân hội nghinh xuân,
1.950. Anh em mới rủ vào thành dạo hoa.
Lầu cao vàng thếp muôn tòa,
Võng điều, ngựa tía lại qua dập dìu.
Vui chân tới một xóm nghèo,
Cảnh đâu có cảnh đìu hiu thế này.
Nhà xiêu lụp sụp tanh hôi,
Cả bầy con trẻ nằm ngồi trơ xương.
Khóc quanh một xác sình trương,
Hỏi ra mới biết người phường tiện nhân.
Góa chồng từ độ thanh xuân,
Tháng ngày làm mướn kiếm ăn lần hồi.
Lại còn nuôi lũ con côi,
Rau thiu, gạo hẩm, cơm ôi cũng là.
Hôm kia làm mướn một nhà,
Bị vu đánh cắp mấy tà áo phơi.
Trói ghì tra khảo một hơi,
Người đâu lại có giống người sói lang.
Thân khô da bọc xương tàn,
Chịu sao khỏi trận đòn oan hỡi trời.
Lòng u uất chẳng nên lời,
Thả ra, xác nọ còn hơi thở tàn.
Khiêng về nào được thuốc thang,
Bỏ bầy con dại cơ hàn chết đi.
Cái thân hạ liệt kể gì,
Trăm oan nghìn khổ cũng vì cái thân.
Xóm này toàn lũ hạ nhân,
Dù ai chết rữa ai cần chôn ai.
Chuyện nghe giận bốc dựng mày,
Đổi viên ngọc quý, thuê người liệm chôn.
Lại lần hỏi chốn quan môn,
Anh em tìm đến một đường kêu oan.
Quan nào lại nỡ xử quan,
Cũng phường hút máu tham tàn như ai.
Phán rằng: “bằng cớ chi đây,
Ai xui mi đến làm rầy cửa công?”
Giận bừng như lửa dầu xông,
Thẳng tìm nhà nọ quyết lòng ra tay.
Rằng: “quân cậy thế hại người,
Qua đây thấy chuyện ngược đời chẳng dung.”
Thế là quyền cước vẫy vùng,
Chợt nghe tướng mạnh quân hùng bổ vây.
Sức nào đọ được muôn người,
Mở đường sống vượt ra ngoài thoát thân.
Tìm về đóng chặt phòng văn,
Rồi đem kinh điển thánh hiền đốt chơi.
Người đâu người lại thịt người,
Thánh thần chỉ để che lời bất nhân.
Thế rồi từ biệt phòng văn,
Bỏ đi khắp chốn xa gần quan chiêm.
Tội tình chỉ bọn dân đen,
Còng lưng nuôi lũ quan trên đè đầu.
Cùng là một bọn sang giàu,
Thêm hàng giáo sĩ hùa nhau lột người.
Thần linh mấy đỉnh từng trời,
Sách kinh chỉ tổ cho đời lận nhau.
Cũng cùng một giọt máu đào,
Cũng cùng kiếp sống ai nào khác ai.
Thế mà nuốt sống ăn tươi,
Thế mà kẻ khóc người cười sao đang.
Nhà nghèo thì khổ cơ hàn,
Nhà thì cẩn ngọc giát vàng làm chơi.
Giàu nghèo đâu tự số trời,
Chia phân lại tự lòng người hiện ra.
Một hôm qua suối giang hà,
Tìm vào gặp Phật nơi nhà tịnh thanh.
Bào Thiên nhác thấy y vàng,
Bao nhiêu vấn nạn lòng chàng tự khai.
Cũng vì tà kiến thương thay,
Biển oan vô thủy chứa đầy lệ thương.
Khổ vui một cuộc vô thường,
Tham mê là nghiệp y nương sâu dày.
Ngoài thềm lãng đãng hoa rơi,
Bảo Thiên thân bổng tỏ ngời ánh quang.
Thần thông trí lự vô vàn,
Người người trong khắp đạo tràng đều hay.
A-nan cung kính chắp tay
Vội thưa: “cội phúc cao dày, lẽ sao?”
Phật rằng: “nhân trước duyên sau,
Xả mê khởi ngộ pháp mầu là đây.
Cách vô lượng kiếp cõi này,
Tỳ-bà-thi Phật hiện bày pháp thân.
Độ người vô lượng vi trần,
Nhân gian nào thấy lệ ngần thương đau.
Thị khai diệu pháp sâu mầu,
Cõi trần biển oán non sầu sạch không.
Một hôm hóa độ qua sông,
Gặp người thao luyện kiếm cung trên bờ.
Hàn quang rụng tuyết sa mù,
Ào ào bão nổi, vụt vù mây bay.
Phật qua anh nọ dừng tay,
Bên đường thi lễ, vái dài kính thưa
Rằng: “con luyện kiếm từ xưa,
Cách dùng cho đúng thì chưa biết gì.
Ngưỡng mong ơn Phật từ bi,
Dạy cho tiện sĩ cách chi giúp đời?”
Phật rằng: “kiếm cũng như lời,
Một câu một nhát hại người như chơi.
Kiếm thì hủy một thân thôi,
Lời sai hại đến muôn đời mai sau.
Trí bi là cách nhiệm mầu,
Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngần.
2.050. Kiếm dùng ngăn ác phù chân,
Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường.
Kiếm hùng giữ vững kỷ cương,
Lời chân hóa chuyển bốn phương thái hòa.
Tránh cho nước nước nhà nhà,
Khỏi lo hiểm hoa can qua bồi hồi.
Cũng tùy phương tiện mà thôi,
Ngăn duyên mê ác, dựng đời hiền lương.
Kìa phòng văn, nọ chiến trường,
Trợ duyên chính đạo y nương chẳng dời.
Cùng khai tánh trí tuyệt vời,
Tâm từ bi trải muôn loài chúng sinh.
Kiếm thần chặt đứt vô minh,
Ý thần giáo hóa nhân quần tan mê.”
Thế rồi từ đó người kia,
Nguyện theo lời Phật tu trì kiếm tâm.
Dù người tỉnh thức, mê lầm,
Dù nơi thành thị xuyên sơn chẳng nề.
Giúp đời lợi lạc muôn bề,
Một thân đại nguyện đi về thênh thang.
Trải bao kiếp mộng trần hoàn,
Đời này phúc huệ đôi đàng vẹn đôi.
Thần thông trí đức tuyệt vời,
Như viên bội ngọc chiếu ngời cõi mê.
Một thân an trụ Bồ-đề,
Muôn thân hóa hiện đi về mười phương.”
Nghe xong người khắp đạo trường
Phát tâm quét sạch tai ương mọi miền.
Phá bờ nhân, ngã, dưới, trên…
Muôn loài như thể một thân, khác gì.
Sạch lòng tà kiến mạn si,
Chung xây quốc độ trí bi đại hòa.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam