Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại
1 người thích

Đăng bởi Vodanhthi vào 24/04/2010 17:44

Thế tôn nhìn ngắm mây bay
Sớm qua núi biếc, chiều này sông lam.
Ngài truyền hiền giả A-nan
Bảo cho đại chúng khóa an cư là:
“Như sông gợn bóng mây qua,
Như non bát ngát đường hoa vân trình,
Trầm tư khai mở trí mình,
Từ bi hóa độ chúng sinh mọi loài.
Đem mình giới hạn trì trai,
Phá tan mê chấp trong ngoài có không.
Như đuốc tỏ chốn bụi hồng,
Như than bích ngọc thoát vòng trần lao.
Tâm tư vạn cửa bạch hào,
Trải y phước địa lối vào nhân thiên…”
Sớm mai từ giã non thiền,
Hàng hàng Tăng chúng các miền vân du.
Như hạt quý trải Diêm-phù,
Thôn lan, thành trúc, động du hoa vàng.
Ta-bà xông giải thoát hương,
Như xuân nắng đượm mười phương đất lành.
Thời gian thấm thoát qua nhanh,
Đã nghe rừng hạ phơi cành lá thu.
Gót chân trầm mặc thiền sư,
Đất in đậm dấu đại từ liên hoa.
An cư kiết hạ vừa qua,
8.850.  Giờ về Xá-vệ nơi Cha tụ lành.
Như ngàn hạc lướt mây xanh,
Đem hoa khắp cõi về thành cúng hương.
Phật ngự tòa pháp chân thường,
Chung quanh Tăng chúng y hường như mây.
Vui mừng nụ cũng đơm cây,
Cúng dường chim cũng họp bầy nhã ca.
Lưng trời mây kết tàn hoa,
Chập chùng núi khoác giang hà thiên thanh.
Sương giăng lưới ngọc trên cành,
Cát hồng mã não trở mình khói sương.
Bấy giờ đức Phật Thế tôn
Hiện hào quang đẹp dị thường tỏa soi.
Lắng nghe tâm kệ từng người,
Môi tươi nét ngọc mỉm cười ngậm hoa.
A-nan khoác tấm y đà,
Miên man dưới gốc cội hoa lắng nhìn.
Thấy Phật hoan hỉ trang nghiêm,
Chẳng hay do tự cơ duyên thế nào
Kiếp này trong ánh bạch hào
Mênh mang biển trí thanh cao khác thường.
Da người mây nhuộm triêu dương,
Mắt ngời vẻ ngọc chân thường tỏa soi.
Tai người như cánh bạch mai,
Răng đều như hạt trên đài sen hương.
Thoáng trông Phật đã tỏ tường,
Biết A-nan nọ vấn vương cõi lòng.
Muốn cho đệ tử tỏ thông,
Dẫn vào biển pháp mênh mông nhiệm huyền.
Nói ra tiền kiếp nhân duyên,
Có ông trưởng giả nổi tên một vùng.
Quá tham giữ ngọc cất vàng,
Giấu chôn sáu hố dưới hàng liễu dương.
Nhưng rồi nào khỏi vô thường,
Ngày kia rồi cũng mồ sương tiêu điều!
Vì tâm tham đắm mạn kiêu,
Đọa làm thân rắn sớm chiều giữ kho.
Sống ôm tiền bạc bo bo,
Chết đi vẫn lại trong lò nghiệp căn.
Quẩn quanh bên hố ngọc vàng,
Gặp khi Bồ-tát thênh thang tới miền.
Nghĩ thương nghiệp rắn đảo điên
U mê trong cõi triền miên đọa đày.
Nhà sư giải nghiệp sâu dày
Khiến cho rắn nọ tỉnh ngay mộng trường.
Ngài khuyên trong cõi vô thường,
Tham mê là gốc con đường chúng sinh.
Vì dày nghiệp cội vô minh,
Tù thân trong cõi giả hình giả danh.
Tiếc gì mấy hũ ngọc vàng,
8.900.  Mà làm kiếp rắn hổ mang nhọc nhằn.
Nên đem làm phước tu nhân,
Cúng dường, bố thí, giải sân si này.
Rắn nghe lệ cũng rơi đầy,
Dẫn về sáu hố khai bày ngọc châu.
Rồi khoanh thân cúi sát đầu
Bò vào bình bát nhiệm mầu thiền sư.
Ngài mang về đến sân chùa,
Gặp khi Tăng chú đương giờ thụ trai.
Nhà sư đem chuyện giãi bày,
Trong bình rắn mới nghe thầy bò ra.
Cúng dường sáu hố ngọc ngà,
Cúi xin trước vị duy-na chứng giùm.
Giờ đây khắp cả trai đường,
Nghe ra thấy chuyện dị thường lạ thay.
Rồi liền sau bữa thụ trai,
Tụng kinh trì chú người người nhất tâm.
Khiến cho rắn sạch mê lầm,
Quy y Tam bảo gieo mầm hóa sinh.
Cõi trời rắn được hiển vinh,
Cũng do phước quả sáu bình ngọc châu.
Nhớ ơn pháp nhũ nhiệm mầu,
Lại cùng Tăng chúng nguyện cầu hóa duyên.
Bao đời sạch oán tan phiền,
Tiến tu vượt cõi sầu miên tuyệt vời.
Còn như chuỗi bọt sóng sôi,
Quẩn quanh sáu nẻo luân hồi tham sân.
Chấp mê ảo huyễn hồng trần,
Khiến thân khẩu ý muôn phần đảo điên.
Sáu căn như cửa sông phiền,
Nghiệp lực như nước triều lên trùng trùng.
Mắt người như sóng xuôi sông,
Ý người như ngựa trên đồng chạy hoang.
Thức người như lớp thành vàng,
Mông mênh huyễn giác muôn làn khói mây.
Cơn cơn mộng ảo trùng vây,
Khác chi từng bẹ thân cây chuối này.
Khiến thành nghiệp thức mê say,
Đẩy vào mãi chốn đêm dài vô minh.
Thế nên sáu loại chúng sinh
Tù giam trong chốn ngụy hình chẳng ra.
Quẩn quanh cõi mộng Ta-bà,
Chuỗi đời vô lượng trần sa khác nào.
Khởi duyên như sóng theo nhau,
Tự đem oan trái buộc vào lụy thân.
Long đong nhật nguyệt xoay vần,
Hợp tan một cõi phù vân rạc rời.
Chân tâm chẳng bến chẳng nơi,
Niết-bàn cũng chỉ như hơi khói đùn.
Để người vượt cõi mây un,
8.950.  Khác chi chớp lóe sương phun nhạt nhòa.
Cũng do phương tiện hóa ra
Hư không một cõi thành hoa diệu vời.
Là đẩu tinh dẫn người người,
Long dong trôi dạt trùng khơi mê mờ.
Mãi tìm bến đậu trong mơ,
Chấp tham sáu cửa vật vờ bước chân.
Thôi thì này nọ ngã nhân
Khiến cho mầm cội mê sân khởi hoài.
Như cơn nước dữ đưa người,
Bánh xe nhân quả luân hồi mãi xoay.
Bây giờ nương dấu thành mây
Vượt qua huyễn giới, theo thầy quy y.
Bóc từng bẹ chuối thân kia,
Vượt muôn bờ vực tế vi tự mình.
Cửa vào cõi giới tâm linh,
Như hoa nở giữa bình minh nắng hồng.
Như chim cánh vút từng không,
Chẳng lưu dấu giữa bềnh bồng mây trôi.
Chân tâm chẳng bến chẳng nơi,
Cũng không biểu tượng, chẳng lời chia phân.
Con đường ngộ nhập tánh chân
Là đường chẳng một dấu chân kiếm tìm.
Mười phương pháp giới vi trần
Cũng là điên đảo mê sân hiện bày.
Như cơn bệnh lớn trong người,
Từ vô thủy kiếp bao đời trầm luân.
Bây giờ gặp được hiền nhân
Chỉ phương diệu dược chữa thân an lành.
Một khi vọng nghiệp tan tành,
Từ trong sân ngục mê thành thoát ra.
Bấy giờ khắp cõi Ta-bà,
Niết-bàn cũng tự trần sa trở mình.
Chân tâm tối diệu, tối linh,
Ngữ ngôn cũng bặt, bóng hình cũng tan.
Đó là đường xuất thế gian,
Cũng là lối nhập trần hoàn độ tha.
Như xuân nắng đượm muôn hoa,
Như hư không nọ chói lòa từ quang.
Mười phương pháp giới bụi vàng
Nằm trong hơi thở một làn sương bay.
Đạo tràng phơ phất hoa lay
Kết thành sương quý quanh đài pháp vương.
Phật ngồi áo nhuộm tà dương,
Chúng Tăng như bụi mây hường nổi quanh.
Núi nghiêng thành quách chàm xanh,
Gió xa cuốn tự mấy cành vàng rơi.
Đàn chim lác đác chơi vơi,
Tụ về ca hát dâng lời dưới hoa.
Lưng non chuông vọng từ hòa,
9.000.  Mây vàng lãng đãng trên tà y bay.
Sông xa triều đã dâng đầy,
Non xa suối vẳng âm dây độc huyền.
Bốn bề xanh ngắt thiên nhiên,
Vẳng đâu tiếng mõ bên triền ngân sương.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam