Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 18/03/2010 18:52

Ngày xưa, nơi biệt thất kia,
Gần non sim tím, bốn bề cúc lan.
Chim ca trong nội cỏ vàng,
Nghe văng vẳng thấy âm đàn suối tơ.
Phu nhân sinh trẻ khôi ngô,
Cành cao, lộc quý trổ vừa tiết Đông.
Bé trai bụ bẫm trắng hồng,
Hơi thơm như thể cánh bông nhung hường.
Khi sanh, điềm báo dị thường,
Một hồ sen bỗng bên đường hiện ra.
Đáy hồ men bóng vàng pha,
Bên hồ liễu biếc la đà tóc lơi.
Nước thơm man mác say người,
Sen vươn mặt nước xanh tươi bao ngành.
Người nghe tin lạ, điềm lành
Về xem như hội, từ thành thị xa.
Ngợi khen phúc báo danh gia,
Tu nhân tích đức nếp nhà quý thay.
Từ non xa, có một thầy,
Mày râu tuyết điểm, nương cây trụ thiền.
Tới xem tướng tốt trẻ hiền,
Cho tên hai chữ Kim Thiên rỡ ràng.
Bảo “mai mốt giúp nhân gian,
Con đàng hóa độ là đàng con đi.”
Nói xong thầy trở gót về
Non cao động biếc bốn bề khói mây.
Thu xuân đưa chuyển tháng ngày,
5.750.  Thời gian xoảy vó, ngựa say dặm vàng.
Kim Thiên danh tiếng đã vang,
Ai ai cũng kính yêu chàng đức cao.
Dáng oai đường bệ anh hào,
Vẻ hiền trầm mặc trăng sao đêm hồng.
Điển kinh ý tự uyên thông,
Trí như nhật nguyệt rộng lòng biển khơi.
Nguyện như núi vững khôn dời,
Thiếu niên đã hiện vẻ người trượng phu.
Khi vào đá động trầm tư,
Khi đêm tàn nguyệt thi thư nức phòng.
Khi vui cuộc rượu trăng trong,
Khi đàn thu dạ đầu sông bóng thuyền.
Mẹ cha bàn định nhân duyên,
Chọn nàng dòng dõi trong miền không xa.
Sắc tươi là vẻ chúa hoa,
Nết hiền là những dòng thơ khói trầm.
Khi sinh nàng cũng lạ lùng,
Một ao bèo cũ hóa vùng hồ sen.
Rồi ngày chàng đến cầu duyên,
Song thân đẹp ý, đôi bên gặp chào.
Trông nhau cũng thấy lạ sao,
Vẻ quen như đã thuở nào tiên tri.
Ngỡ ngàng đâu dám hỏi chi,
Bâng khuâng đôi dạ suốt kỳ hứa hôn.
Tới ngày ngựa đón kiệu son,
Gối thơm chung mộng, trăng tròn sánh vai.
Cùng nhau tâm sự đủ lời,
Vẫn không nhớ đã gặp hồi nào xưa.
Đành cười coi gặp trong mơ,
Hai phương đồng điệu chuốt tơ hữu tình.
Một đêm chợt vọng âm thanh,
Chuông chùa tự đỉnh non xanh thức lòng.
Như vừa tỉnh giấc trần hồng,
Nhìn ra vằng vặc hoa đồng nguyệt pha.
Hồ như vọng tiếng thiết tha,
Từ thiên thu gọi người về siêu nhiên.
Lâng lâng sạch não tan phiền,
Dường trong suối mạch thu xuân reo hò.
Tiền thân thoảng hiện giấc hồ,
Lênh đênh khổ hải lô xô cánh buồm.
Đêm vàng thoảng sợi tơ chuông,
Nghe như thoảng ngát mùi hương tịnh trầm.
Kiếp nào làm cội hoàng tâm,
Đôi chim hát núi nghỉn năm vụt về.
Kiếp nào làm cội Bồ-đề,
Cho mây giải thoát ôm kề sớm hôm.
Kiếp nào làm chớp làm sương,
Kiếp nào lau lách bên đường cái quan.
Và từ kiếp nọ nghèo nàn,
5.800.  Vợ chồng cuốc núi, ươm lang bên rừng.
Một chiều nắng dãi mù sương,
Hai người riêng tạo thiên đường bướm hoa.
Dưới non, đường khách lại qua,
Vợ chồng mới dựng túp nhà cỏ thơm.
Ngày ngày lên ngọn suối tuôn,
Hứng bình nước mát cúng dường chúng sanh.
Sớm hôm bao kẻ bộ hành,
Dừng chân uống nước, nghe mình thảnh thơi.
Thương thân như thể thương người,
Chẳng cầu lợi lộc tham lời ngợi ca.
Một hôm gặp Phật đi qua,
Hóa duyên từ một miền xa ghé vào.
Lều tranh bên cội hoa đào,
Uống thêm bát nước mát sao lạ thường.
Cúng dường mà chẳng cúng dường,
Chỉ còn một tấm lòng thương mới là.
Phật nguyện cho bậc tín gia,
Mười phương thế giới cũng là một thân.
Chín muơi mốt kiếp phù trần,
Tâm kia như khối ngọc thần tỏa soi.
Vợ chồng khăng khít lứa đôi,
Vào ra sáu nẻo luân hồi như không.
Bây giờ nghe tiếng chuông hồng,
Tiếng “om” thiền lực thoảng đồng trăng sao.
Xô tan vách mộng thành sầu,
Đất phiền nảy hạt nhiệm mầu cỏ hoa.
Như đêm tối nguyệt hiện ra,
Như chim linh thoại tiếng hòa vô thanh.
Nghìn năm là giấc mộng xanh,
Sớm ra hóa hiện trên cành nguyệt mai.
Trần gian là chặng đường dài,
Còn ai thiên cổ dấu ai đi về.
Bâng khuâng bến thực thuyền mê,
Tay không lần chuỗi Bồ-đề cũng không.
Dường trong một thoáng chuông đồng,
Chín mươi mốt kiếp trần hồng nổi nênh.
Mà trong một hạt bụi trần,
Chín mươi mốt kiếp xuân thu tiêu điều.
Gặp trong đáy mắt yêu kiều,
Tạng kinh vô tự cao siêu nhiệm huyền.
Bãi ngô thoảng tiếng chim khuyên,
Đầu non đã hiện một viền thái dương.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam