Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 11/04/2010 18:24

Ngày xưa, trong một rừng cây
Bên thành Xá-vệ, dưới mây phớt hồng.
Chim vi vút hót trong sương,
Hoa man mác nở bên đường mát tươi.
Hương bay mấy dặm tơ trời,
Nhà tranh đôi nếp thoảng hơi tịnh trầm.
Tiếng vàng giữa chốn tuyền lâm,
Như xuân suối chảy như đầm thu hơi.
Liễu buông quanh một rừng người,
Như chim từ bốn phương trời họp đây.
Trên nền cỏ mướt nhung say,
Thiện nam tín nữ quanh Thầy trầm tư.
Phật ngồi khoác tấm y tơ,
Như hoàng cúc nở mấy bờ nắng mai.
Tay như lan nụ búp dài,
Lời như mưa đọng trên đài sen thơm.
Pháp mầu như ánh triêu dương
Khiến người bừng thức giấc trường mộng say.
Có đoàn về chậm sáng nay
Vì ngang đường núi gặp đây một người.
Mù lòa từ lúc ra đời
Nên không biết cảnh đất trời là chi.
Khi nghe nhộn nhịp tiếng đi,
Bước như sóng cuộn dồn về một phương.
Lắng tai thấy vẻ khác thường,
6.550.  Anh liền men tới bên đường hỏi thăm.
Người cho biết có Thế tôn
Vân du mấy ngả núi non mới về.
Đạo ngài khai ngộ chuyển mê,
Như xuân mầu nhiệm thoảng về muôn hoa.
Khiến cho khắp cõi Ta-bà,
Khiến cho vô lượng trần sa trở mình.
Anh rằng “nghe được âm thinh
Thì tôi có thể biết minh chúa nào.
Hoặc như tiếng sấm trời cao,
Thì tâm trí hẳn sâu mầu vô song.
Hoặc tiếng như giục trống đồng,
Biện tài như thể nghìn sông sóng dồn.
Hoặc tiếng trầm ấm như đờn
Thì thanh cao hẳn đáng tôn thánh hiền.
Hoặc tiếng như trời Phạm thiên,
Người này làm Chuyển luân vương đời đời.
Phúc cao trí huệ tuyệt vời,
Hoặc làm Phật khắp trời người ngưỡng trông.
Xin bác làm phúc vui lòng,
Dẫn tôi theo đến rừng trong, để tường.
Nghe âm thanh sẽ rõ ràng,
Biết là vị ấy giả chân thế nào.”
Nhập đoàn bước thấp bước cao
Tới nơi, ngừng cạnh gốc đào cùng nhau.
Anh mù lắng tiếng nhiệm mầu,
Khánh đâu giải thoát, chuông đâu trầm từ.
Rõ ràng âm Phạm như như,
Lòng anh mừng quá, mắt mù sáng ngay.
Trông ra hoa lá muôn cây,
Trời thăm thẳm lụa, người vây điệp trùng.
Trên nền cỏ mướt như nhung,
Thế tôn lồ lộ giữa vầng hào quang.
Nắng mai rực sắc y vàng,
Khoác trên Tăng chúng nghiêm trang xum vầy.
Đoàn người dắt anh tới đây
Bỗng thấy đôi mắt sáng đầy tự nhiên.
Vội vàng xúm hỏi huyên thiên,
Anh rằng “pháp Phật nhiệm huyền biết bao.
Từ âm vừa lắng tiếng vào,
Biến tan ý xấu, rạt rào tình thương…”
Nói thôi, anh vội tìm đường
Xen vào tận chỗ Thế tôn đương ngồi.
Cánh hoa phơi phới quanh người,
Hương bay dìu dịu một trời hân hoan.
Phật đưa năm ngón tay thon
Vẫy anh cho tới ngồi luôn cạnh ngài.
Như cha hiền đón con trai
Bao năm biền biệt phương trời cách xa.
Anh nghe lòng nỗi thiết tha,
6.600.  Khiến rưng rưng lệ chan hòa niềm thương.
Trí sao vụt sáng như gương,
Thân sao chợt tỏa mùi hương chiên đàn.
Như chim bỏ hội hoa vàng,
Cánh bay còn ướp đôi làn phấn thơm.
Dưới trời lãng đãng mây vương,
A-nan ngẫm chuyện lạ thường xưa nay:
Thân phàm lại có hương bay,
Mắt đui lại bỗng sáng ngay rõ ràng?
Phật cười hiểu ý A-nan
Muốn nghe biết rõ tiền thân người mù.
Liền hoan hỉ kể ngay cho
Một chuyện trong những kiếp xưa của ngài.
Thuở ấy có bực anh tài
Làm vua một nước quyền oai lẫy lừng.
Đức cao thu phục quỉ thần,
Ải biên bền vững nhân dân phú cường.
Trong khi đó vua láng giềng
Tháng ngày chỉ mãi hoang đàng mà thôi.
Khi săn bắn, lúc ăn chơi,
Việc dân việc nước buông lơi, thiết gì!
Ưa dùng những bạn gian phi
Chuyên quyền bóc lột, bốn bề oán kêu.
Nhân dân cơ cực đủ điều,
Mồ hôi nước mắt bao nhiêu cho vừa.
Hễ ai lên tiếng can vua
Là bị đày đọa ngục tù khổ thân!
Hiền lương có vị đại thần,
Vốn nghe danh đức minh quân nước ngoài
Bèn tìm cách trốn tới nơi,
Trình bày quốc sự, xin ngài thương cho,
Giúp quân về diệt gian nô
Cùng là bạo chúa để mà cứu dân.
Hiền vương nghe kể xa gần,
Thương người nước đó nhục nhằn đã lâu.
Giờ đây tìm đến mong cầu
Xin trừ gian ác, lẽ đâu chối từ.
Ví tu suốt kiếp trần sa
Chẳng bằng cứu khổ người qua ách nàn.
Dù nơi địa ngục cơ hàn
Còn hơn ở chốn Niết-bàn an vui.
Quên thân mạng để giúp người,
Đó là Bồ-tát đời đời hóa thân.
Nghĩ rồi truyền xuống quan quân
Dựng cờ chính nghĩa mây vần sóng sôi.
Hẹn khi diệt bạo tàn rồi,
Tìm người hiền đức dựng ngôi thái bình.
Còn ta, sẽ rút hết binh,
Dù đền ơn, nhượng mấy thành, chẳng ham.
Cốt sao trừ được ác gian,
6.650.  Cứu người thoát khỏi lầm than bạo quyền.
Thế là trống giục vang rền,
Ngựa voi chuyển bước gươm tên chói lòa.
Mạnh như bão nổi mưa sa,
Ải biên muôn dặm tràn qua một ngày.
Địch nghe tim vỡ hồn bay,
Nhân dân nổi dậy phá ngay thành trì.
Hôn quân cùng bọn gian phi
Bị dân bắt giữ hết bề đảo điên.
Vua truyền đóng tại ải biên,
Giúp tìm tân chúa đức hiền trị dân.
Xong rồi xuống lệnh hồi quân,
Oai danh đại nghĩa vang rần Tây Đông.
Trở về nước, lại thong dong,
Một chiều vua dạo cánh đồng ngó hoa.
Nhìn sông nước cuộn bao la,
Sớm mây sắc trắng chiều qua sắc vàng.
Sóng xuôi điệp điệp hàng hàng,
Bờ cao sóng đập âm vang thì thào.
Lớp này tan để lớp sau,
Vua thầm nghĩ khác chi đâu kiếp người.
Nghiệp nhân quả báo khôn dời,
Tử sinh một chuỗi sương rơi ngọn đào.
Sóng tàn nước có đi đâu,
Lớp này tan để làm cầu lớp sau.
Ngàn năm mãi tiếng rì rào,
Thân ta rồi cũng khác nào sóng kia.
Chẳng mau vượt khỏi sông mê,
Xá chi giả tướng đi về sắc không.
Bỗng dưng vua gặp ngoài đồng,
Lều tranh một mái vẻ trông tiêu điều.
Gió mưa vách rã cột xiêu,
Lách lau nắng dãi lối rêu ngõ nào.
Cỏ hoang vạch lối rẽ vào,
Nhà trong một trẻ xanh xao mù lòa.
Mồ côi không mẹ không cha,
Ngày lần vào xóm mấy nhà xin ăn.
Gian nan đói khổ muôn phần,
Tháng năm lủi thủi một thân tật nguyền.
Vua nghe lặng nghĩ triền miên,
Dân còn đói khổ mà trên hay nào.
Nghĩ mình chót vót ngôi cao,
Hoàng cung lộng lẫy, ra vào ngựa xe.
Còn người đói khát mù lòa,
Bọt bèo kiếp sống lê la phố phường.
Lều tranh một nắng hai sương,
Kiếp người thôi một dặm đường đớn đau.
Thế mà vua có hay đâu,
Trông ra chỉ thấy vàng châu quanh người.
Giận thân mắt sáng mà đui!
6.700.  Liền tự móc một con ngươi của mình.
Nguyện rằng “cứu khổ chúng sinh,
Thề trừ cội rễ vô minh sâu dày.
Thề làm lợi lạc người người,
Trần gian còn một nụ cười hoan ca.
Nguyện này nếu được như là,
Thì mắt trẻ nọ hóa ra sáng ngời.”
Lời vua chuyển đất rung trời,
Chiều hôm chợt hiện mặt trời bình minh.
Chim mười phương họp trên cành,
Tha hoa cúng rải hạnh lành đức vua.
Lạ thay đứa trẻ đang mù,
Bỗng dưng như mắt chim thu tỏ ngời.
Trông ra mặt đất chân trời,
Lúa thơm phương đất, hoa rơi ngọn cành.
Núi rừng cây trĩu trái xanh,
Chon von hồng tía mấy thành mây phong.”
Phật kết: “Vô thủy vô chung,
Nguyện Bồ-tát hóa vô cùng vô biên.
Kiếp xa xưa kẻ tật nguyền,
Bây giờ mắt huệ hiện viền tánh không.
Suốt nơi khắp cõi trần hồng,
Khác chi cát bụi trong lòng bàn tay.
Kể trong kẻ tóc triền mây,
Thú trùng cho đến cỏ cây muôn loài.
Đều là pháp thể Như Lai,
Đến vô lượng cõi không ngoài chân tâm.”
Vừa nghe người phá vọng tâm,
Như sen thường trụ trong đầm thiên thu.
Phát lòng thanh tịnh tiến tu,
Nguyện muôn lượng kiếp đền bù hạnh duyên.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam