Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại
2 người thích
Từ khoá: thơ thiền (148)

Đăng bởi Vodanhthi vào 14/01/2010 20:04, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vodanhthi vào 14/01/2010 20:08

Rằng xưa có một nhà kia,
Bên bờ suối liễu bốn bề tùng reo.
Mây bay nườm nượp sớm chiều,
Tiếng chim ăn trái buông đều nhạc rơi.
Ngày kia sinh hạ một trai,
Sương thành hoa gấm bay lơi xuống thềm.
Hương dâng ngát thoảng quanh miền,
Nhân đây mới đặt Hoa Tiên tên người.
Lớn lên phúc huệ tuyệt vời,
Dáng như mai hạc, tính trời từ bi.
Mắt ngời là giếng lưu ly,
Môi là đào mận xuân thì đơm hoa.
Tóc dường suối cẩm vừa sa,
Tiếng như khánh ngọc gương ngà ném tan.
Dựng lầu bên suối họp văn,
Thơ ngâm rặng liễu dạo đàn canh sương.
Nếp nhà cốt cách thư hương,
Kinh Hiền ba tạng lầu thông nghĩa mầu.
Một đêm ruổi ngựa qua cầu,
Ôm đàn dạo nguyệt, nghiêng bầu rượu hoa.
Tìm lên ngọn suối vừa sa,
Nghe chim họp bạn trên bờ cỏ tươi.
Bỗng đâu đôi bóng hạc trời,
Thinh không đáp xuống bên người thiết tha.
Cánh dường mây trắng vờn xa,
Tiếng như tay chạm phím ngà nên thanh.
Ngậm hoa về phía rừng xanh,
Trải lên vườn trúc, đượm cành trăng sao.
Hoa Tiên thấy chuyện lạ đâu,
Dõi theo ngựa xoải vó câu dặm vàng.
Dừng yên ngoài cổng đạo tràng,
Thấy trên thảm cỏ hàng hàng tỳ-kheo.
Vây quanh ngọn lửa hồng reo,
Hướng vào đức Phật y điều nghiêm trang.
Vừa trông thấy ánh từ quang,
Lòng Hoa Tiên chợt bàng hoàng chuyển y.
Não phiền theo gió tan đi,
Đứng trong sương lạnh dưới vì sao mai.
Sáng ra trở ngựa dặm dài,
Về thăm cha mẹ xin nài xuất gia.
Tin đâu truyền khắp thôn nhà,
Khách vào thăm hỏi, người ra lễ mừng.
Song thân rằng: "Dẫu nhớ mong,
Cũng xin để cánh chim hồng tung bay.
Một đi chí nguyện cao dày,
Thoát nơi phiền não, lòng này ngưỡng mong.
Dám đâu cạn ý hẹp lòng,
Giam chân tiên hạc trong lồng vàng châu.
Còn như uẩn khúc vì đâu,
Tình duyên oan trái, nên cầu xuất gia?
Lòng con cứ thực tỏ ra,
Trăm muôn nghìn khó mẹ cha nào từ."
Tiên rằng: "con đã tỏ thưa,
Tự dưng lòng lại mến ưa đạo mầu.
Chẳng vì mục đích tham cầu,
Dù là quả thánh, phép mầu thần thông.
Chẳng vì chán cảnh trần hồng,
Chẳng vì một giấc mơ mòng dở dang.
Lòng con siêu thoát mang mang,
Như sông nhớ biển lên đàng giục xuôi."
Thế rồi cha mẹ thuận lời,
Hôm sau đàn sách chậm rời thôn hoa.
Xuôi đường mấy dặm chim ca,
Đến vườn lục trúc nơi nhà tịnh thanh.
Phật vừa hoá độ trong thành,
Về qua cầu bẻ một cành bạch mai.
Gặp Hoa Tiên đợi sân ngoài,
Người cầm hoa đặt lên vai chàng cười.
Bàng hoàng thốt chẳng nên lời,
Hoa Tiên đôi mắt rạng ngời tinh châu.
Lòng chàng vừa chứng đạo mầu,
Hào quang như kết quanh đầu vòng bông.
Phật hay bốn chúng nghi lòng,
Đến ngồi ngay dưới giàn trồng đậu dưa.
Ngài rằng: "Tiền kiếp xa xưa,
Tỳ-bà-thi Phật nhất thừa pháp khai.
Một hôm qua ấp thụ trai,
Giữa đường Ngài gặp một người thôn dân.
Dưới đầm hoa đứng nhìn lên,
1900. Nhà nghèo nên áo che thân cũng tàn.
Biết lòng ai muốn cúng dàng,
Phật dừng chân chỉ con đàng uốn quanh:
"Đắp đường lợi lạc chúng sanh,
Cúng dường chính pháp trọn lành biết bao!"
Người kia ngộ lý nhiệm mầu,
Nguyện ra công sửa đường, cầu nơi nơi.
Mặc cho chúng bạn chê cười,
Dần dần anh khiến bao người góp tay.
Cũng nhờ cội phước xưa nay,
Phát tâm bố thí, kiếp này giàu sang.
Vừa sinh, muôn đám sương vàng,
Kết thành hoa trải thôn làng hương đưa.
Bây giờ gặp đạo đại thừa,
Trải cơn mưa lớn, lượng vừa cỏ cây.
Như lòng hạc nhớ non mây,
Như chim bể Bắc họp bầy sang Nam.
Hoa Tiên đã xả bụi vàng,
Hư không vô tướng đâu hàng vết chim."
Nghe xong người khởi lòng tin,
Nguyện đem nhân quý gieo lên hồng trần.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam