Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vodanhthi vào 18/04/2010 18:15

Một thời, trong ánh từ quang,
Toàn dân Xá-vệ bốn phương vui hòa.
Có người thương khách lại qua
Đem lời xưng tụng truyền xa cõi ngoài.
Vua Kim Địa quốc, vốn người
Thắng dư ngàn trận, vang trời oai danh.
Hiện là Đại Kiếp Tân Ninh,
Nghe khen nước khác, lôi đình nổi ngay.
Liền cho sứ giả sang đây
Đòi chia lãnh thổ, hẹn ngày gắt gao!
Vua quan Xá-vệ lo sao,
Vội cầu Phật chỉ cách nào thoát nguy.
Tìm qua động khói tà huy,
Tới bờ rêu biếc, bái quì tỏ thưa.
Dưới giàn hoa rụng như mưa,
Phật ngồi bên suối ngâm thơ một mình.
Sau khi nghe kể sự tình,
Bảo về cho sứ Tân Ninh biết là
Liền bên Xá-vệ từ xưa
Có một vương quốc mạnh vừa gấp trăm.
Chở che Xá-vệ bao lần,
Giờ nghe tin dữ, vội thăm sự tình.
Truyền đòi sứ giả Tân Ninh
Phải sang chầu tại triều đình đó ngay.
Không tuân sẽ bị tan thây,
Tài nào thoát được họa này mà mong.
Rồi ngài dụng phép thần thông,
Rừng Kỳ-hoàn hóa thành đồng nguy nga.
Ngựa, voi, xe trận bày ra,
Trại doanh san sát, rừng cờ đua tươi.
Lại thêm dũng tướng ngàn người,
Chỉ huy hàng ngũ sáng ngời gươm đao.
Hào sâu ngút ngút thành cao,
Điện cung lầu các khác nào thiên tiên.
Lúa thơm xanh ngắt muôn miền,
Đâu đâu cũng dựng chùa chiền tôn nghiêm.
Lối vào thành ngọc đôi bên,
Mấy tòa mã não mấy thềm lưu ly.
Ngai vàng điện ngọc uy nghi,
Văn quan võ tướng đôi bề nghiêm minh.
Về phần sứ giả Tân Ninh
Nghe đòi, chưa biết sự tình ra sao.
Đất người đâu dễ thoát nào,
Thì qua xem để rồi sau liệu đường.
Phái đoàn tiến tới thành vương,
7.650.  Giật mình trước cảnh phi thường oai nghi.
Nước mình so sánh đáng chi,
Mà vua mình lại toan bề viễn chinh!
Trước thềm, phách lạc hồn kinh,
Tay dâng thơ nọ, mặt xanh như chàm.
Giọng oai truyền tự ngai vàng,
Bắt vua Kim Địa phải sang đây chầu.
Tội đòi đất cát không đâu,
Nuôi lòng hiếu thắng, gây sầu binh đao.
Phải sang tạ trước thiên trào,
Nếu không, toàn quốc tiêu hao tức thì.
Phán xong, cho sứ lui về,
Một đoàn người ngựa hết bề vênh vang.
Về đến Kim Địa khai tường
Rằng thấy nước Chuyển luân vương thực là
Cung vàng điện ngọc nguy nga,
Thành cao, hào rộng, binh cơ oai hùng.
Nhân dân vui sướng vô cùng,
Khắp nơi tươi đẹp, suốt vùng thương nhau.
Rõ là nước mạnh dân giàu,
Ngựa voi chinh phục năm châu cũng thừa.
Tân Ninh đại đế sững sờ,
Tưởng mình vô địch, ai ngờ đến đâu!
Vội vàng triệu tập chư hầu,
Các vua nước nhỏ vẫn chầu tiến đây.
Chiến, hòa thảo luận hăng say,
Cuối cùng đành chịu theo ngày hẹn sang.
Để cho thấy được Thiên vương
Và cho tránh khỏi tai ương nước nhà.
Mang theo nhung gấm ngọc ngà,
Nghìn xe ngựa kéo, cầu hòa lễ sang.
Xứ đoàn ra khỏi biên cương,
Gặp toàn ngạ quỉ bên đường hiện ra,
Cung tên gươm giáo sáng lòa,
Vạc dầu, địa ngục, muôn tòa lửa nung.
Sẵn sàng luộc kẻ ác hùng,
Diệt quân xâm lược, vô cùng gớm ghê.
Xa xa thành dựng pha lê
Hào quang rực rỡ bốn bề nguy nga.
Ngàn ngàn voi ngựa kéo ra.
Toàn là dũng tướng, toàn là tinh binh.
Vua nước Kim Địa thất kinh,
Càng trông càng tự giận mình cạn nông.
Trước nơi chín bệ thềm rồng,
Ăn năn hối lỗi, tạ lòng cao sâu.
Nguyện đem bao nước chư hầu
Theo về nghĩa cả, quy chầu thánh vương.
Phật truyền mở tiệc thết mừng,
Món ngon thức quý lạ lùng bày ra.
Tân Ninh quan sát gần xa,
7.700.  Khắp nơi trên thuận dưới hòa xiết bao.
Kính thành hỏi đấng tối cao
Cách nào kiến quốc, cách nào an dân.
“Luật hòa là phép cường quân,
Khẩu hòa là phép nghĩa nhân trị người.
Kiến hòa khai hóa cõi đời,
Thân hòa là phép nơi nơi an lành.
Lợi hòa là phép yên dân,
Ý hòa là phép trừ sân muộn phiền.
Bi là sức sống triền miên,
Trí là gươm phép dựng quyền quốc gia.
Hùng là sức dẹp phong ba,
Dù muôn cõi cũng một nhà anh em.”
Dạy xong, truyền lấy cung tên,
Tám chàng lực sĩ vội khiêng đến Ngài.
Bảo Tân Ninh giương thử coi,
Nhà vua ra sức một hồi: uổng công!
Phật bèn cầm lấy tên, cung,
Nhẹ nhàng giương nảy tiếng đồng sấm ran.
Bắn ra vô vạn tên vàng,
Người trong tiệc yến kinh hoàng xiết bao.
Cánh cung ngọc tỏa bạch hào,
Đầu tên sen nở khác nào luân xa.
Đài sen nhụy kết thành tòa,
Chuyển luân vương ngự giữa hoa diệu vời.
Gió đâu thoảng ngát trầm hơi,
Trong hương văng vẳng những lời pháp thiêng.
Khiến người nghe sạch ưu phiền,
Thiện căn tăng trưởng, dưới trên thuận hòa.
Người thì phát nguyện xuất gia,
Vượt tam thế mộng ngự tòa kim cương.
Người thì vượt thoát vô thường,
Khiến mười cõi giới cúng dường ân chiêm.
Chúng sinh trên cõi thiên tiên
Vừa nghe chính pháp, hương liền tỏa đưa.
Lòng thanh tịnh, trải hoa mưa
Cúng dường tán thán Phật thừa mở khai.
Có người cầu đạo Như Lai,
Có người nguyện xuống trần ai hộ trì.
Lại hàng ngạ quì tham si,
Tai nghe sấm chuyển từ bi hóa lòng.
Tiêu tan cõi ngục lửa hồng,
Hốt nhiên siêu thoát ngoài vòng tâm lao.
Cõi nhân thiên hóa sinh vào,
Hoặc đi cứu khổ người nào đớn đau.
Lại loài trùng thú ngựa trâu
Vừa trông ánh sáng nhiệm mầu tỏa soi.
Tham si như đám mây trôi,
Hóa sinh lên cõi trời người tiến tu.
Lại người dưới cõi ngục tù,
7.750.  Người trong biển oán non thù nhẹ tênh.
Thân tâm muôn sự an lành,
Hóa sinh lên cõi trời xanh ngọc ngà.
Người dù ác nghiệp trần sa,
Nghe xong rũ bụi ái hà tanh hôi.
Tân Ninh cùng với bầy tôi
Tan tành ác kiến, phục hồi chân tâm.
Vội quì bên bậc thánh vương,
Một lòng sám hối, vô thường nguyện qua.
Bỗng dưng thành quách muôn tòa
Bay lên cùng bóng mây sa giữa trời.
Hiện ra Tăng chúng muôn người,
Quanh tòa thất bảo diệu vời hào quang.
Giữa đài Phật đắp y vàng,
Từ bi trí tuệ rỡ ràng ngọc soi.
Thần thông biến hiện diệu vời,
Các vua cùng đến bên Người hân hoan:
“Chúng con ngu muội gian tham,
Bây giờ nguyện xuất thế gian tu hành.
Nghìn năm gặp được duyên lành,
Xin ngài tế độ cho thành nghiệp lưu.”
Phật gọi “thiện lai Tỳ-khiêu!”
Là áo vua biến hồng điều cà-sa.
A-nan hầu dưới giàn hoa,
Cánh rơi như thể tuyết sa y vàng.
Thấy các vua giữa đạo tràng
Bỗng dưng biến tướng, dự hàng thánh Tăng.
Chắp tay hỏi đức Pháp vương:
“Xin thầy cho được tỏ tường việc nay:
Vì sao các vị vua đây
Tóc rụng, áo đổi, hiện bày dáng tu?”
Thế tôn kể kiếp xa xưa,
Đời Phật Ca-diếp pháp thừa mãn khai.
Sau khi ngài nhập diệt rồi,
Thành kia mới có một người tín gia
Thường đi các chốn lam-già
Khuyến người công đức dựng nhà pháp Tăng.
Trợ duyên các vị tu hành,
In kinh để chút nhân lành mai sau.
Lại tìm mã não trân châu
Tạc nên chuyện tích nhiệm mầu Phật, Tăng.
Tín gia nhiều kiếp tu hành,
Kiếp làm vua cõi trời xanh trị vì.
Kiếp làm chúa ngục Thiết vi,
Đâu đâu cũng hiện từ bi một lòng.
Trải vô lượng kiếp trần hồng,
Kiếp này trị quốc ngai rồng rạng oai.
Còn bao vua nước nhỏ đây,
Đời xưa công quả dựng xây chùa chiền.
Phúc lành đầy cõi tam thiên,
7.800.  Bây giờ gặp Phật hóa duyên đại từ.
Như đêm hiện nguyệt chân như,
Lụy trần sa bỗng khắc giờ đập tan.
Sông xuôi lãng đãng mây vàng,
Về non đào tụ đôi hàng chim bay.


Phạm Thiên Thư thi hoá tư tưởng Dàmamùka Nidàna Sùtra (Kinh Hiền Ngu), Trần thị Tuệ Mai nhuận sắc.

Nguồn: Hội hoa đàm, Cơ sở Văn Chương ấn hành, mùa Hạ năm Quý Sửu 1973, Sài Gòn, Việt Nam