Gió thu hiu hắt khóm phương tùng,
Thổi rụng hàng châu ngoẹn má hồng.
Cỏ biếc chẳng treo hồn Sở trướng,
Trúc vàng thà điểm giọt Ngu cung.
Hoa kề cổ trủng đeo tình nặng,
Trăng rọi cô lư sáng tiếng trong.
Dệt gấm Thanh Nê câu nhất tiếu,
Thêu nền Thuý Ái chữ tam tùng.


Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ là anh trai của Trương Quỳnh Như. Ông là cựu thần nhà Lê, người làng Thanh Nê, trấn Sơn Nam, làm Hiệp trấn Lạng Sơn. Vua Quang Trung dứt nhà Lê, ông không tòng vong, ở lại làm quan cùng triều Tây Sơn để làm nội ứng cho nghĩa binh Cần Vương đương ngấm ngầm lo việc khôi phục. Việc lớn chưa thành, ông bỗng nhiên qua đời. Vợ ông là Long Cơ đưa linh cữu về Thanh Nê. Tang ma xong yên, bà lẻn ra bên mộ, treo cổ tuẫn tiết nhưng người nhà cứu khỏi. Bà bèn cất một ngôi nhà bên mộ gọi là Nghĩa Lư, một mình ở thờ chồng.

Nguồn: Quách Tấn, Hương vườn cũ, NXB Hội nhà văn, 2007