Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Cổ phong (cổ thể)
Thời kỳ: Cận đại
Từ khoá: lao động (115)

Đăng bởi tôn tiền tử vào 23/12/2018 11:01

Con bóng ác đã xế về chót núi
Phận lão tiều than củi ở đầu non
Bước gập ghềnh, đường sạn đá chon von
Vợ chồng lão hãy còn ngồi trong xó hố
Vợ than thở: cái thân ơi! ta quá khổ
Cái chi vầy, xấu hổ với phường đinh
Ai có sớm lui cui trong xó núi một mình
Bộ lem luốc, không ra hình chi cả thảy.
Chồng một quảy, vợ quảy theo một quảy
Rất nặng nề, năm sáu bảy năm nay
Lấm lui thui, thui thủi cả bàn tay
Củi thì có mà dép giày thì chẳng có
Chồng khi ấy, ngoắt tay kéo lại dỗ:
Rán mà theo đừng để đổ mấy ki than
Vợ nỉ năn, chàng hỡi là chàng!
Đường thế lộ nghênh ngang là biết mấy
Sao chàng chẳng đi theo làm vầy vậy
Trước vinh hoa, sau lấy bạc tiêu chơi
Uốn lưỡi mềm mà láo xược với người đời
Đã sung sướng còn hơi ngoe ngắt nữa
Nghĩ như rứa, sao châng không muốn rứa
Núp trong rừng dụ dựa chẳng đua bơi
Nợ nần gì trốn tránh suốt đời
Con khốn đốn mà vợ thời than đói rách
Chàng khi ấy mới mở lời bộc bạch
Cuộc đời chừ đây ráo riết cạnh tranh
Kiếp con người là kiếp phù sanh
Lợi cũng rứa mà danh thôi cũng rứa
Cơm hẩm hút ngày đôi ba bữa
Ních cho no mà tắm rửa bụi hồng trần
Tội tình gì đày đoạ cái tấm thân
Sớm qua Sở, tối qua Tần
Mắt không nhắm, ngó chừng túi bạc
Công danh ấy nghĩ thôi cũng mặc xác
Kẻ bôn ba, người nhàn lạc, thú nào hơn?
Nói với người, người chẳng biết ơn
Ngồi với bạn, bạn hằng giữ thế
Công danh ấy, ta đâu nào có kể
Gạo nước trong, nồi cơm ghế cũng là nhàn
Sớm mai đi bán ít ki than
Chiều về núi nghênh ngang một cõi
Điều phải trái, khen chê thôi đấm bãi
Thôi khỏi vòng theo dõi bước xiêng xiêng
Khỏi đi theo luồn cúi dưới cường quyền
Ta không dại, không điên đâu mà phải dạy
Mưu Hàn Tín sự nghiệp gỉ để lại
Kế Khổng Minh công ấy được bao lâu?
Xét xưa nay mấy bực công hầu
Danh vọng ấy tốt gì đâu mà ao ước
Chi cho bằng than mình quạt ra sáng rực
Qua thu rồi, ai cũng chực mà mua
Gặp cơn hàn chẳng kể giá hơn thua
Tiền bạc nẩu kéo ùa nài nỉ đổi
Vậy có câu rằng:
“Thiên tải minh lương hoàn hữu hội
Nhứt hồ phong nguyệt lạc trường xuân”
Vợ nghe rồi, ngồi dững dừng dưng
Cầm chén cúc, tay nâng từ tạ quá
Chồng bắt đốc, vỗ tay cuời ha hả
Mừng cho ta “năng hoá phụ nhơn ngu”
Cứu dân hàn ta cứ việc lo
Lo sửa soạn chỉnh tu ba cái giỏ
Quyết trở lại đốn cây văn võ
Đem về hầm chín đỏ rực thành than
Chờ khi nào trong nước sửa sang
Luyện lấy sắt, bền gan ra giúp chúng
Đồ cơ khí nẩu đợi than mình hơ nóng
Thợ Hoá Công rồi cũng tính cho ta
Uy thôi thôi, đừng kể gần xa
Mà bỏ nghiệp Ông Bà ta thuở trước
Đạo Trời Đất khéo xoay vần lộn ngược
Hoạ thế này hết nước phải lên non
Đoái giang sơn cây cỏ hãy còn
Để dạy bảo cháu con ra gánh vác
“Mãn mục giang san cu thị lạc
Nhứt hồ vinh nhục bất tu kinh”
Ngoài bốn phương, bầy uý tử bọn tham sinh
Ai ai cũng muốn than mình hơ ấm lại
Nói cho phải điều khôn cùng sự dại
Nỡ lòng nào bạc ngãi thú yên hà
Vợ nghe rồi: tôi biết đến già
Tôi đâu dám tưởng cửa nhà giàu sang
Chồng vầy đúng mực khôn ngoan.


Tiều phu thán nằm trong số những sáng tác nổi tiếng nhất được truyền lưu trong dân chúng địa phương Quảng Ngãi và cả miền Trung.

Nguồn: Phạm Trung Việt, Thi ca & giai thoại miền Ấn - Trà, Cẩm Thành thư xã, Quảng Ngãi, 1973