Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Trần
2 bài trả lời: 2 bản dịch
Đăng bởi Vanachi vào 13/09/2008 03:46

登天奇山留題其二

長楊奏賦謝無能,
此地曾陪玉輦登。
昔日池臺今尚在,
滿村華鳥恨難勝。
山圍安野晴嵐靄,
水匯茶江白浪層。
伏外萬屯春似錦,
孝思天子正朝陵。

 

Đăng Thiên Kỳ sơn lưu đề kỳ 2

Trường Dương tấu phú tạ vô năng,
Thứ địa tằng bồi ngọc liễn đăng.
Tích nhật trì đài kim thượng tại,
Mãn thôn hoa điểu hận nan thăng.
Sơn vi An Dã tình lam ái,
Thuỷ hối Trà Giang bạch lãng tằng.
Phục ngoại vạn đồn xuân tự cẩm,
Hiếu tư Thiên tử chính triều lăng.

 

Dịch nghĩa

Xin từ tạ không có tài dâng bài phú Trường Dương,
Đã từng theo hầu xe ngọc lên thăm đất này.
Ao, đài ngày trước nay còn đây,
Hoa, chim khắp xóm thôn, mối sầu khôn xiết.
Núi vây quanh An Dã, hơi bốc lên nghi ngút,
Nước chảy dồn về Trà Giang làn sóng bạc điệp trùng.
Nấp bên ngoài hàng vạn đồn binh, về xuân tựa gấm,
Chính lúc Thiên tử nghĩ về đạo hiếu, đang triều yết nơi lăng tẩm.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Trường Dương chẳng có phú đem dâng,
Xe ngọc nơi đây hộ giá từng.
Thuở trước ao đài, nay vẫn đó,
Khắp thôn cảnh sắc, khó cầm lòng.
Núi vây An Dã hơi nghi ngút,
Nước hướng Trà Giang sóng điệp trùng.
Ngoài cửa vạn đồn xuân tựa gấm,
Chính khi Thiên tử tới chầu lăng.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Dâng phú Trường Dương không có tài,
Từng hầu xe ngọc viếng nơi này.
Ao, đài ngày trước nay còn đó,
Khắp xóm hoa chim, khôn xiết sầu.
An Dã núi vây, đầy hơi bốc.
Trà Giang nước chảy sóng bạc đầu.
Nấp ngoài đồn binh, xuân tựa gấm,
Vua hiếu về chầu lăng tẩm đây.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời