Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Hồ, thuộc Minh
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Đăng bởi Vanachi vào 12/07/2008 01:50

破齒戲作

人言破齒事堪嗟,
蠹毒年來況轉加。
不待忘唇寒至骨,
正愁咬菜恨無牙。
勞形天定教渠逸,
病症人催如我多。
未死徒為原壤賊,
甲雄何必歲龍蛇。

 

Phá xỉ hí tác

Nhân ngôn phá xỉ sự kham ta,
Đố độc niên lai huống chuyển gia.
Bất đãi vong thần hân chí cốt,
Chính sầu giảo thái hận vô nha.
Lao hình thiên định giáo cừ dật,
Bệnh chứng nhân thôi như ngã đa.
Vị tử, đồ vi Nguyên Nhưỡng tặc,
Giáp hùng hà tất tuế long xà.

 

Dịch nghĩa

Người ta nói răng là việc đáng than thở,
Huống chi một năm lại đây, sâu độc càng nhiều thêm.
Chẳng đợi hở môi đã lạnh thấu xương,
Đáng buồn khi nhai rau, giận nỗi không răng.
Vì hình hài vất vả, nên trời định cho nó được nhàn rỗi,
Chứng bệnh thôi thúc người, có ai nhiều như ta?
Chưa chết, chỉ để làm hại như Nguyên Nhưỡng,
Hà tất phải sống lâu năm như rồng rắn là loài có vẩy cứng.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đào Phương Bình

Người rằng răng gẫy thật buồn tênh,
Sâu độc gần đây khoét cũng kinh.
Môi hở đầu mà xương đã lạnh,
Rau ăn buồn nỗi miệng không nanh.
Xác mòn, trời để nhàn cho nó,
Bệnh thúc, ai hay lắm tựa mình.
Nguyên Nhưỡng, giặc sao mà chửa chết,
Tuổi tầy rồng rắn cũng không vinh.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Người nói gẫy răng việc đáng than,
Huống chi sâu độc mới càng tăng.
Hở môi là đã thấu xương lạnh,
Giận nỗi nhai rau buồn chẳng răng.
Vất vả hình hài trời định rỗi,
Thúc người nhiều bệnh ai như ta?
Hại làm chưa chết như Nguyên Nhưỡng,
Hà tất sống lâu tựa rắn rồng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời