李暇齋訪,賦此韻以答

人生蹤跡雪泥鴻,
邂逅誰知一笑同。
久別令人思叔度,
甚衰笑我夢周公。
論文每向交情上,
誰與相期氣概中。
賸把此詩當有契,
何妨渭北與江東。

 

Lý Hạ Trai phỏng, phú thử thi vận dĩ đáp

Nhân sinh tông tích tuyến nê hồng,
Giải cấu thuỳ tri nhất tiếu đồng.
Cửu biệt linh nhân tư Thúc Độ,
Thậm suy tiếu ngã mộng Chu Công.
Luận văn mỗi hướng giao tình thượng,
Thuỳ dữ tương kỳ khi khái trung.
Thặng bả thử thi đương hữu khế,
Hà phương Vị Bắc dữ Giang Đông.

 

Dịch nghĩa

Dấu vết đời như dấu chim hồng trên bùn tuyết,
Ai ngờ tình cờ lại được cùng nhau vui cười.
Cách biệt đã lâu, làm cho người ta nhớ tới Thúc Độ,
Cười mình suy yếu còn nằm mơ thấy Chu Công.
Bàn luận văn chương thường nhắm trên tình giao du,
Biết cùng ai hẹn hò trong vòng khí khái.
Chỉ còn đem bài thơ này làm tình bạn hữu,
Có hề gì Vị Bắc với Giang Đông.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Lê Sáng

Nhân sinh tựa tuyết vạch chân hồng,
Bỗng dịp ai ngờ được vui chung.
Cách biệt giục người mong Thúc Độ,
Tuổi già cười lão mộng Chu Đông.
Bình văn mỗi dịp giao tình đậm,
Bằng hữu lâu dài khí khái chung.
Thử đặt vần thơ cùng bạn hữu,
Hề gì Vị Bắc với Giang Đông!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Việc đời như dấu tuyết chân hồng,
Gặp dịp tình cờ vui vẻ cùng.
Cách biệt lâu làm nhớ Thúc Độ,
Cười mình nằm mộng thấy Chu Công.
Văn chương bàn nhắm tình giao hảo,
Hò hẹn biết ai khí khái lòng.
Thơ viết này làm tình bạn hữu,
Hề chi Vị Bắc với Giang Đông.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời