Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Trần
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 23/08/2008 02:08

雁字

秋高澤國早寒生,
天外遙看雁字橫。
帶雨亂翻千點濕,
衝風斜草數行輕。
一聲霜信連雲起,
半幅鄉書伴月行。
笑我素無蒼頡志,
滿空鳥蹟不能名。

 

Nhạn tự

Thu cao trạch quốc tảo hàn sinh,
Thiên ngoại giao khan nhạn tự hoành.
Đới vũ loạn phiên thiên điểm thấp,
Xung phong tà thảo sổ hàng khinh.
Nhất thanh sương tín liên vân khởi,
Bán bức hương thư bạn nguyệt hành.
Tiếu ngã tố vô Thương Hiệt chí,
Mãn không điểu tích bất năng danh.

 

Dịch nghĩa

Mùa thu đã muộn, đồng nước sinh rét sớm,
Xa trông bên trời hàng chữ nhạn giăng ngang.
Mang theo mưa, tung bay nước nghìn giọt,
Xông vào gió, thảo chếch chữ mấy hàng.
Một tiếng tinh sương, mây tầng nổi dậy,
Nửa bức thư nhà, theo trăng đi về.
Cười ta vốn không có chí của Thương Hiệt,
Dấu chân chim đầy trên không mà không biết gọi chữ gì.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Văn Chấp

Thu già mặt nước lạnh lùng thay,
Một nét bên trời chữ nhạn bày.
Nghìn điểm tung ra mưa rải rác,
Vài hàng thoả xuống gió lung lay.
Đón tin sương tới cơn mây dựng,
Đưa bức thư về bóng nguyệt ngay.
Mình hổ tài thua Thương Hiệt trước,
Dấu chim chan chứa chữ khôn hay.


Bản dịch trên "Nam phong tạp chí", số 116-1927.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Thu muộn, đồng nước lạnh sớm sinh,
Xa bên trời chữ nhạn giăng hình.
Mang theo mưa bay nước nghìn giọt,
Mây tầng nổi dậy tiếng sương tinh.
Thảo chữ mấy hàng xông vào gió,
Nửa bức thư nhà, theo trăng về.
Cười ta không chí như Thương Hiệt,
Dấu chim đầy trời chẳng biết tên.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời