舟在香芹水涸未得進偶興

夏月行舟水未深,
征夫懨滯徬山林。
健奴食罷惟交跌,
愁客茶餘又獨斟。
潮落潮生寧有意,
人來人去總無心。
得時會待冬梅發,
此度重過不似今。

 

Chu tại Hương Cần thuỷ hạc vị đắc tiến ngẫu hứng

Hạ nguyệt hành chu thuỷ vị thâm,
Chinh phu yêm trệ bạng sơn lâm.
Kiện nô thực bãi duy giao điệt,
Sầu khách trà dư hựu độc châm.
Triều lạc triều sinh ninh hữu ý,
Nhân lai nhân khứ tổng vô tâm.
Đắc thì hội đãi đông mai phát,
Thử độ trùng quá bất tự câm (kim).

 

Dịch nghĩa

Đi thuyền trong tháng hè, nước chưa đủ sâu
Khách đi đường xa nằm chết dí ở cạnh rừng
Lũ đầy tớ khỏe ăn rồi chỉ có vật nhau
Khách rầu rĩ hết tuần trà lại một mình rót rượu
Thủy triều lên xuống liệu có ý gì chăng?
Người lại người qua thảy vô tâm
Được thời sẽ đợi hoa mai ngày đông mới lên đường
Lúc ấy lại qua đây, không (ngưng trệ) như hôm nay nữa


Nguồn: Đoạn trường lục, Phạm Nguyễn Du, NXB Khoa học xã hội, 2001

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Văn Các

Đi thuyền tháng hạ nước chưa đầy
Chết dí chinh phu cạnh núi này
Tớ khỏe ăn rồi chăm đánh vật
Thầy buồn trà hết rượu chuyên tay
Người qua người lại vô tâm cả
Triều xuống triều lên hữu ý đây?
Được buổi đợi ngày đông xuất phát
Qua đây khi ấy khác ngày rày

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Tháng hạ đi thuyền  con nước cạn
Chinh phu nằm đợi cạnh bìa rừng
Ăn xong lũ tớ thi nhau vật
Trà hết khách buồn rượu tự châm
Người lại người qua đâu hữu ý
Triều lên triều xuống thảy vô tâm
Đợi khi vào lúc mai đông nở
Qua lại nơi đây ắt thuận dòng

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời