舟過同倫水竭未得發因興

舟過同倫夜二更,
長流成陸客淹程。
山供柴草村供米,
石設簾幃土設屏。
健僕操刀深哨探,
小婢捧硯候題評。
林間鳥亦知人意,
每向燈光和數聲。

 

Chu quá Đồng Luân thuỷ kiệt vị đắc phát nhân hứng

Chu quá Đồng Luân dạ nhị canh,
Trường lưu thành lục khách yêm trình.
Sơn cung sài thảo thôn cung mễ,
Thạch thiết liêm vi thổ thiết bình.
Kiện bộc thao đao thâm tiếu thám,
Tiểu tỷ phủng nghiễn hậu đề bình.
Lâm gian điểu diệc tri nhân ý,
Mỗi hướng đăng quang hoạ sổ thanh.

 

Dịch nghĩa

Thuyền qua Đồng Luân, đêm đã sang canh hai
Dòng sông thành đất cạn, khách đành phải nấn ná lại
Núi cung cấp rơm củi, làng cung cấp gạo
Đá làm rèm màn, đất làm bình phong
Đầy tớ khoẻ xách dao đi thăm dò mạch nước
Thị tì bưng nghiên mực chờ (ta) đề thơ
Trong rừng, chim kia như cũng biết ý người
Chốc chốc lại hướng về ánh đèn mà hoạ lên vài tiếng


Nguồn: Đoạn trường lục, Phạm Nguyễn Du, NXB Khoa học xã hội, 2001

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Văn Các

Đồng Luân thuyền đến, trống canh hai
Sông cạn khách đành nán lại thôi
Núi cấp củi cành, làng cấp gạo
Đá làm màn trướng, đất làm đài
Xách dao, anh bếp đi dò nước
Bưng mực, cô sen đợi viết bài
Rừng rậm, chim kia như hiểu ý
Thấy đèn, chốc lại hót liên hồi

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Đồng Luân thuyền đến canh hai
Đất bồi sông cạn thuyền ai phải dừng
Gạo làng sẵn với củi rừng
Màn che đá núi bình phong đất dồn
Cầm dao, tớ dọ nước nguồn
Đề thơ, thị nữ bưng nghiên đợi chờ
Chim rừng đôi tiếng vẩn vơ
Thấy đèn, cất giọng như chia ý người

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời