Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ tự do
Thời kỳ: Hiện đại

Đăng bởi Vanachi vào 17/11/2015 23:41

Lời Khánh Dư

Ta van ngươi lui bước xuống khoang rồng,
Tâu thánh thượng cho ta vào bệ kiến.
Từ đã ba hôm, ta ngóng trông đoàn thuyền chiến,
Phò hành cung tới đậu bến sông này.
Từ đã ba hôm (ta) mong thấy bóng cờ bay,
Và mui buồm từ xa, phun sóng bạc...
Vì ai đem chiếu son, gài lưỡi mác,
Truyền, hôm nay, sớm tối, các vương hầu.
Phải đem quân về duyệt bến Đồng Dâu,
Ấn kỳ lân vẫn hay không còn nữa.
Ta cũng vứt sườn non con dao rựa,
Trói mình chờ long giá mé sông hoang.
Giữa khi, từ Kỳ Sơn tới cửa biển Đại Hoàng,
Từ sông Lư tới non Hoành mây đua lướt.
Dân phẫn uất sâu thù quân cướp nước,
Đương nghiến răng mài kiếm đợi người Mông.
Ta là đinh trai tráng đất Lạc Hồng,
Lòng đâu đứng nhìn binh vua tan vỡ.
Nhìn móng câu phũ phàng bầy mọi rợ,
Đạp bằng thành tráng lệ, tháp nguy nga.
Ta đã lang thang thăm suốt dải Hồng Hà,
Từ khi bị biếm quan đi đẵn củi.
Ta đã ngắm những làng, nương, rừng, núi,
Nơi năm xưa, kỵ mã Ngột Lương qua.
Ta đã nghe bên lửa, những ông già,
Nghẹn nước mắt hờn ôn câu chuyện cũ.
Ta đã thấy tim rên niềm thống khổ,
Và thấy luồng căm tức chuyển thần kinh...
Lòng kiêu căng bùng nổi sóng bất bình,
Mà trời ơi! Đâu phải.
Trường luyện vũ nơi tưng bừng nắng rãi,
Hia Khánh Dư chưa đặt đế bao giờ!
Đã từng phen ta quăng ngựa lướt vòng đua.
Cùng Tĩnh Quốc, cùng Chiêu Văn, cùng Hưng Đạo!
Đã từng phen ta giương cung mã não,
Ta phi tên run cắm đá bia mài.
Và, từ hôm các tướng tá thi tài,
Ai chưa biết đường đao ngươi Nhân Huệ?
Nên sáng nay, liều ngăn thuyền thánh đế,
Ta van vua cho góp mặt hội vương hầu.
Ưng cho ta dưới trướng cắp gươm hầu,
Khi, quanh án, các hoàng thân bàn việc nước.
Ưng cho ta, khi tù và hô quân vang trời rúc,
Say bơi trong máu vũng gặt đầu lâu.
Ưng cho ta, khỏi nhục nhã kiếp mày râu,
Ưng cho ta, sau dăm lần vui thú ấy.
Trường chiến thắng cát kiêu tung lộng lẫy,
Trăm thương đâm suốt ngực một chiều kia.


Bài thơ này được đăng trên báo Độc lập số 163, ngày 4-6-1946, trong bài viết Việt kiều làm thơ (cùng 2 bài thơ và 2 cặp câu đối khác) với lời dẫn như sau:
Đây là mấy bài thơ của Việt kiều làm tại Pháp đã đăng trong báo Bình dân số 3 ngày 1-4-1945.

Tôn thất nhà Trần là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư mắc tội bị cách hết chức tước. Khi nhà Nguyên cử binh mã sang chiếm nước ta, Khánh Dư tuy không được dự việc quân, cũng tới soái doanh nài xin giúp việc đánh đuổi cừu địch. Sau Khánh Dư thắng trận thuỷ chiến Vân Đồn, nhờ có Hưng Đạo vương thắng trận Bạch Đằng, phá tan quân nghịch. Ngày nay, lòng chúng ta cũng rạo rực tình yêu nước và chỉ muốn hy sinh như người xưa. Tiếc rằng chúng ta không có cách nào chiến đấu dưới bóng cờ của Chính phủ Hồ Chí Minh, để bảo thủ nền tự trị của nước nhà.

Bài thơ dưới đây gợi lại chuyện Khánh Dư tới soái doanh, miền Phả Lại Bắc Ninh nói cùng vệ binh xin nhập ngũ.
Nguồn: Báo Độc lập, số 163, ngày 4-6-1946