Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Tiếng Nga
2 bài trả lời: 1 bản dịch, 1 thảo luận

Đăng bởi Tung Cuong vào 12/10/2025 09:04, đã sửa 1 lần, lần cuối bởi tôn tiền tử vào 20/11/2025 10:40

“Бездомного, безродного...”

Бездомного, безродного
Немало попадается
Народу на Руси,
Не жнут, не сеют — кормятся
Из той же общей житницы,
Что кормит мышку малую
И воинство несметное:
Оседлого крестьянина
Горбом ее зовут.
Пускай народу ведомо,
Что целые селения
На попрошайство осенью,
Как на доходный промысел,
Идут: в народной совести
Уставилось решение,
Что больше тут злосчастия,
Чем лжи, — им подают.
Пускай нередки случаи,
Что странница окажется
Воровкой; что у баб
За просфоры афонские,
За «слезки богородицы»
Паломник пряжу выманит,
А после бабы сведают,
Что дальше Тройцы-Сергия
Он сам-то не бывал.
Был старец, чудным пением
Пленял сердца народные;
С согласья матерей,
В селе Крутые Заводи
Божественному пению
Стал девок обучать;
Всю зиму девки красные
С ним в риге запиралися,
Оттуда пенье слышалось,
А чаще смех и визг.
Однако чем же кончилось?
Он петь-то их не выучил,
А перепортил всех.
Есть мастера великие
Подлаживаться к барыням:
Сначала через баб
Доступится до девичьей,
А там и до помещицы.
Бренчит ключами, по двору
Похаживает барином,
Плюет в лицо крестьянину,
Старушку богомольную
Согнул в бараний рог!
Но видит в тех же странниках
И лицевую сторону
Народ. Кем церкви строятся?
Кто кружки монастырские
Наполнил через край?
Иной добра не делает,
И зла за ним не видится,
Иного не поймешь.
Знаком народу Фомушка:
Вериги двупудовые
По телу опоясаны
Зимой и летом бос,
Бормочет непонятное,
А жить — живет по-божески:
Доска да камень в головы,
А пища — хлеб один.
Чуден ему и памятен
Старообряд Кропильников,
Старик, вся жизнь которого
То воля, то острог.
Пришел в село Усолово:
Корит мирян безбожием,
Зовет в леса дремучие
Спасаться. Становой
Случился тут, всё выслушал:
«К допросу сомустителя!»
Он тоже и ему:
«Ты враг Христов, антихристов
Посланник!» Сотский, староста
Мигали старику:
«Эй, покорись!» Не слушает!
Везли его в острог,
А он корил начальника
И, на телеге стоючи,
Усоловцам кричал:

«Горе вам, горе, пропащие головы!
Были оборваны, — будете голы вы,
Били вас палками, розгами, кнутьями,
Будете биты железными прутьями!..»

Усоловцы крестилися,
Начальник бил глашатая:
«Попомнишь ты, анафема,
Судью ерусалимского!»
У парня, у подводчика,
С испугу вожжи выпали
И волос дыбом стал!
И, как на грех, воинская
Команда утром грянула:
В Устой, село недальное,
Солдатики пришли.
Допросы! усмирение!
Тревога! по сопутности
Досталось и усоловцам:
Пророчество строптивого
Чуть в точку не сбылось.

Вовек не позабудется
Народом Ефросиньюшка,
Посадская вдова:
Как божия посланница
Старушка появляется
В холерные года;
Хоронит, лечит, возится
С больными. Чуть не молятся
Крестьянки на нее…

Стучись же, гость неведомый!
Кто б ни был ты, уверенно
В калитку деревенскую
Стучись! Не подозрителен
Крестьянин коренной,
В нем мысль не зарождается,
Как у людей достаточных,
При виде незнакомого,
Убогого и робкого:
Не стибрил бы чего?
А бабы — те радехоньки.
Зимой перед лучиною
Сидит семья, работает,
А странничек гласит.
Уж в баньке он попарился,
Ушицы ложкой собственной,
С рукой благословляющей,
Досыта похлебал.
По жилам ходит чарочка,
Рекою льется речь.
В избе всё словно замерло:
Старик, чинивший лапотки,
К ногам их уронил;
Челнок давно не чикает,
Заслушалась работница
У ткацкого станка;
Застыл уж на уколотом
Мизинце у Евгеньюшки,
Хозяйской старшей дочери,
Высокий бугорок,
А девка и не слышала,
Как укололась до крови;
Шитье к ногам спустилося,
Сидит — зрачки расширены,
Руками развела…
Ребята, свесив головы
С полатей, не шелохнутся:
Как тюленята сонные
На льдинах за Архангельском,
Лежат на животе.
Лиц не видать, завешены
Спустившимися прядями
Волос — не нужно сказывать,
Что желтые они.
Постой! уж скоро странничек
Доскажет быль афонскую,
Как турка взбунтовавшихся
Монахов в море гнал,
Как шли покорно иноки
И погибали сотнями…
Услышишь шепот ужаса,
Увидишь ряд испуганных,
Слезами полных глаз!
Пришла минута страшная —
И у самой хозяюшки
Веретено пузатое
Скатилося с колен.
Кот Васька насторожился —
И прыг к веретену!
В другую пору то-то бы
Досталось Ваське шустрому,
А тут и не заметили,
Как он проворной лапкою
Веретено потрогивал,
Как прыгал на него
И как оно каталося,
Пока не размоталася
Напряденная нить!

Кто видывал, как слушает
Своих захожих странников
Крестьянская семья,
Поймет, что ни работою,
Ни вечною заботою,
Ни игом рабства долгого,
Ни кабаком самим
Еще народу русскому
Пределы не поставлены:
Пред ним широкий путь.
Когда изменят пахарю
Поля старозапашные,
Клочки в лесных окраинах
Он пробует пахать.
Работы тут достаточно,
Зато полоски новые
Дают без удобрения
Обильный урожай.
Такая почва добрая —
Душа народа русского…
О сеятель! приди!..


 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Tùng Cương

Người vô gia cư, người không gốc gác
Ở lẫn không ít khắp chốn khắp nơi
Trên đất Nga mọi góc biển chân trời
Không cày cấy, gieo trồng, mà vẫn sống
Nhờ kho lúa quê hương cung cấp
Nuôi sống từ những chú chuột con
Đến đội quân hùng mạnh rất đông:
Còn nông dân ở một vùng bám chặt
Được gọi là kẻ lưng còng quen gánh nặng.
Ai chả hay có một chuyện rằng,
Vùng này có nguyên cả xóm, một làng
Cứ thu đến, rủ nhau đi ăn mày khắp chốn,
Như đi bám nghề có nguồn thu ổn,
Trong lương tâm dân dã nói chung
Đều đã ghi một nhận định cùng,
Nghề này bất hạnh nhiều hơn dối trá,
Vì thế người ta bố thí cho họ đã.
Tuy ngoài đời không hiếm chuyện là,
Một người hành hương lại hoá ra
Tên ăn trộm; có trường hợp ta nói đến
Khách khoe từ núi Aphon, đem về bánh thánh,
Rồi “những giọt lệ của thánh mẫu” luôn
Lừa các bà đem sợi đổi hàng giả của ông,
Còn sau đấy, các bà cùng biết được,
Ngoài tu viện Trôitsa - Xecgi ở đây trước
Ông ta chưa bao giờ bước chân khỏi nơi này,
Một già tu hành có giọng hát diệu kì thay
Thu phục trái tim mọi người đầy mê hoặc;
Các bà mẹ cho phép ông lão được
Mở tại làng Krutuwie Davôđi lớp học nhanh
Lão bắt đầu đem dạy thánh ca ngay
Cho hết thảy bao nhiêu cô con gái;
Suốt đông lạnh, các cô má hồng tươi rói
Cùng lão gặp nhau trong nhà kho, khoá cửa ngoài,
Từ đây vọng ra tiếng tập hát nghe ít rồi
Mà toàn nghe cười rúc rích, thét gào thôi.
Nhưng câu chuyện kết thúc rồi sao đấy?
Lão chẳng dạy họ hát được bài nào vậy,
Mà chỉ làm đám con trẻ thành hư.
Có nhiều tay đúng thật bậc thầy như
Giỏi mua chuộc các mẹ ban đầu trước:
Rồi chuyển dần sang các tiểu thư tiếp,
Sau rồi tiến đến các cô gái xinh,
Cuối cùng lần tới bà địa chủ là xong.
Tay lắc lắc chìa khoá, quanh sân đi dạo,
Dáng đi hệt như ông chủ thật tạo,
Nhổ vào mặt nông dân bất kì,
Biến bà già vốn đi lễ thành tâm nhiều khi
Uốn cong họ thành sừng cừu dễ thế!
Nhưng trong số những người hành hương đang kể
Dân chúng nhìn ra mặt chính diện luôn
Bao nhà thờ do tay ai dựng xây lên?
Bao nhiêu hòm công đức trông đầy nghẹn
Nhờ bàn tay ai, tu viện thu về trọn vẹn?
Có người chưa hề làm điều thiện bao giờ,
Còn điều ác cũng biết tránh xa nhờ,
Vậy mà ta đâu hiểu con người họ.
Phomushka quen mặt mọi người từ lâu đó:
Ông đeo hai pud sắt quanh người
Là xích xiềng quấn chặt trọn đời
Hết hạ sang đông toàn đi chân đất,
Miệng lẩm bẩm những câu vô nghĩa thật,
Nhưng trong đời, tuân theo đạo Chúa một lòng:
Đi ngủ, gối đầu bằng ván hay hòn đá là xong,
Vào bữa, chỉ thấy bánh mì ăn suốt.
Ông thấy lạ lùng và nhớ mồn một
Krôpilnikôp - một tín đồ cựu giáo thuỷ chung,
Suốt cuộc đời, vật lộn trong bão dông
Khi tù tội, khi tự do đang có
Ông đã đến làng Uxôlôvô rồi ở đó.
Ông chê những ai không tin Chúa trên đời,
Kêu gọi mọi người vào rừng sâu ở thôi
Để cứu mình. Trường cảnh sát huyện mau có mặt,
Nghe mọi chuyện xong, bèn phán thật:
“Giải người xúi giục đi thẩm vấn ngay!”
Nhưng ông trả lời viên cảnh sát này:
“Mi phản Chúa, kẻ thù của Chúa Jêsu vậy”
Viên cai đội, tay lý trưởng ấy
Nháy mắt ra hiệu cho ông lão rằng:
“Thôi chịu thua đi!” Ông lão không đầu hàng!
Ông bị lôi đi nhốt thẳng nhà giam,
Và ông mắng nhiếc một viên quan lại
Rồi ông đứng ngay trên xe ngựa
Hét lớn củng dân làng Uxôlôvô:

“Khốn cho dân tỉnh, khốn nguy to,
Đầu óc mọi người sao lẫn hết!
Trước rách nát, nay sẽ trần như nhộng thiệt,
Họ đánh người bằng vọt, gậy, roi da
Rồi đánh bằng thanh sắt nung đỏ cho!..”

Dân làng Uxôlôvô làm dấu thánh,
Trưởng cảnh sát huyện đánh người đưa tin chính
“Đồ bị Chúa bỏ đi! Ngươi phải nhớ ngay,
Quan toà ở Jerusalem là Chúa chứ ai!”
Một chàng trai làm nghề đánh xe ngựa
Thấy hãi hùng, bèn thả dây cương rơi xuống đã
Và tóc cậu ta dựng đứng ngược lên!
Và đúng phải tội, quân đội nhận lệnh liền
Ban ra sáng hôm sau thấy:
Tiến vào Uxtôi, một làng không xa mấy,
Quân lính từng đội kéo nhau lên.
Tiến hành tra hỏi! Trấn áp cho yên!
Hoảng loạn! và như té nước theo chắc
Người làng Uxôlôvô bị vạ lây nặng:
Lời tiên tri của kẻ cứng đầu
Chỉ suýt thì thành ứng nghiệm mau.

Người làng suốt đời không quên nổi
Bà Ephrôxiniushka một gương sáng chói
Một bà goá sống thời dịch bệnh, phải cách ly:
Bà như sứ thần của Chúa cử đi
Khi xuất hiện ở làng là bà lão;
Những ngày tháng hoành hoành dịch tả điên đảo,
Bà thuốc thang, chôn cất, chăm sóc bệnh nhân,
Những người làng suýt nữa cùng nhau
Làm lễ cầu siêu cho bà lão…

Cứ gõ cửa, các vị khách phương xa hỡi!
Chắc chắn, dù bạn có là ai,
Thấy hàng giậu ở quê, cứ gõ cửa thôi!
Người nông dân bám rễ ở đây gốc gác,
Vốn không mang tính đa nghi, cảnh giác,
Trong đầu họ không có nghĩ suy,
Như người khá giả thường tỏ ra khi
Thấy kẻ lạ đến nhà thăm hỏi,
Dù là nghèo, rụt rè và bối rối:
Chẳng may gặp người tắt mắt thì sao?
Còn các bà — vui sướng biết bao.
Mùa đông tới, bên lửa gỗ dăm làm đèn sáng,
Cả nhà mỗi người một việc lo cáng đáng
Còn khách vui chuyện đủ thứ trên đời.
Trong nhà tắm hơi, khách được nếm thử rồi,
Ăn canh cá bằng chính chiếc thìa của mình thực,
Với bàn tay chân thành, ban phúc,
Nhà chủ đãi bữa ấm bụng, no nê.
Ly rượu con chảy trong huyết mạch tê tê,
Và lời tuôn ra như suối chảy.
Trong nhà gỗ, mọi vật ngưng đông lại:
Ông lão sửa đôi giày bện bằng vỏ cây,
Làm rơi giày xuống chân ngay;
Thoi dệt từ lâu hết lách cách bên tai,
Người thợ dệt, chăm chú nghe, đứng lặng
Ngay sát bên khung cửi;
Ngón tay út bị kim đâm nhói đau
Trên bàn tay của Evgenyushka,
Cô con gái lớn nhà bà chủ
Đã nổi thành nốt sưng nho nhỏ,
Cô gái thậm chí không nghe thấy rõ sao,
Mình bị kim đâm chảy máu thế nào;
Tấm vải may tuột xuống chân ra đất,
Cô ngồi, hai đồng tử mở to hết sức,
Buông thõng nhìn bất lực hai tay…
Lũ trẻ con buồn thiu gục xuống, cúi đầu ngay,
Trên bếp lò không nghịch đùa, trêu trọc:
Như những chú hải cẩu đang buồn ngủ thực,
Trên tảng băng ngoài bến Arkhangelsk,
Giờ phút này, đều nằm sấp như nhau.
Không nhìn rõ mặt người, trên đầu nhiều lọn tóc
Buông thả xuống loè xoè che kín hết
Khỏi phải nói, tất cả đều hay,
Rằng tóc cùng màu vàng hoe đầy.
Gượm đã nào! Rồi đến đoạn
Người hành hương mau kể xong chuyện
Về ngọn núi Aphôn ngày xưa,
Cách người Thổ đuổi hết sạch đi
Các thày tu nổi loạn ra biển khơi xanh biếc,
Chuyện tu sĩ tuân lệnh đi từng bước
Và chết cả trăm người mất xác nơi xa…
Ta nghe qua tiếng nói nhỏ hãi hùng sao,
Ta nhìn thấy bao con mắt ngấn lệ,
Những nước mắt kinh hoàng, lo sợ thế!
Khi phút giây hãi hùng đã tới nơi -
Và ngay cả bà chủ nhà thôi
Cũng để cuộn sợi tròn lăn lông lốc,
Từ đầu gối tuột rơi luôn xuống đất.
Chú mèo Vaska nghe ngóng căng tai -
Và nhảy lên cuộn sợi bị rơi!
Giá lúc khác, chuyện đó toi rồi là chắc
Dù khôn vặt, mèo Vaska lãnh đủ hết,
Không một ai nhận ra chú mèo tinh ranh,
Dùng đến chân nhoay nhoáy rất nhanh
Chạm vào cuộn sợi đang lăn vội,
Chú nhảy phắt ngay lên cuộn sợi
Và cuộn sợi cứ vùn vụt lăn đi,
Cứ lăn hoài, lăn mãi tận tới khi
Cuộn sợi tởi ra rối tung hết cỡ!

Ai có dịp từng nhìn chuyện đó
Cảnh một gia đình nông dân đón chào
Những người hành hương tìm đến nhà vào
Sẽ thấu hiểu, không phải việc làm nặng nhọc,
Không phải tại bộn bề mệt thực,
Không phải ách nô lệ khắc nghiệt trăm đường,
Không phải do quán rượu địa phương,
Đặt giới hạn gây ra bao trở ngại,
Khiến toàn thể dân Nga đều chịu mãi.
Trước mặt họ là đường rộng thênh thang.
Khi người nông dân bị cản trở, ngáng đường,
Bởi những cánh đồng canh tác từ xưa cũ,
Những thửa ruộng ở ven rừng mọi chỗ,
Người nông dân thử bắt đầu cấy cày,
Việc làm ở nơi đó, lúc nào cũng đầy,
Vì những thửa ruộng mới khai hoang, canh tác,
Dù phân gio chưa được bón tốt nhất
Nông dân luôn được mùa thật bội thu.
Đất đai sao phong phú, phì nhiêu,
Đây là chính tâm hồn người Nga thật…
Hỡi những người gieo hạt, hãy đến đây sớm nhất!


Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Cách gọi tên các bài thơ trong Phần 4

ChatGPT:
Nekrasov gọi chúng là песни – “những bài ca”.
→ Chữ “песня” ở đây không phải nghĩa “hát”, mà là một đơn vị truyện thơ mang tính dân gian, tương đương “bài thơ / khúc ca”.
Cách hiểu chung về kiểu đặt tên này
• Nekrasov mô phỏng lối nói dân gian – như tên bài hát, bài kể chuyện của dân quê.
• Mỗi tiêu đề “песня” hay “песенка” là một mảnh đời, một giọng nói riêng.
• Cách đặt tên bằng tính từ (mặn, đói, say…) khiến bài ca mang tính biểu tượng cảm giác – vừa hiện thực, vừa giàu chất thơ dân gian.
Kết luận
Cách đặt tên “Голодная”, “Солёная”, “Пьяная”… trong Nekrasov:
Là dạng dân gian – biểu cảm, dùng tính từ giống cái bổ nghĩa cho danh từ “песня”, nhằm biểu thị tình cảm, cảnh ngộ hoặc chủ đề xã hội mà bài thơ phản ánh.


Chưa có đánh giá nào
Trả lời