滿江紅-登黃鶴樓有感

遙望中原,
荒煙外,
許多城郭。
想當年,
花遮柳護,
鳳樓龍閣。
萬歲山前珠翠繞,
蓬壺殿裏笙歌作。
到如今,
鐵騎滿郊畿,
風塵惡,

民安在?
填溝壑。
兵安在,
膏鋒鍔!
嘆江山依舊,
千村寥落。
何日請纓提銳旅!
一鞭直渡清河洛?
卻歸來,
再續漢陽遊,
騎黃鶴。

 

Mãn giang hồng - Đăng Hoàng Hạc lâu hữu cảm

Dao vọng Trung Nguyên,
Hoang yên ngoại,
Hứa đa thành quách.
Tưởng đương niên,
Hoa già liễu hộ,
Phượng lâu long các.
Vạn Tuế sơn tiền châu thuý nhiễu,
Bồng Hồ điện lý sênh ca tác.
Đáo như kim,
Thiết kỵ mãn giao kỳ,
Phong trần ác.

Dân an tại?
Điền câu hác.
Binh an tại?
Cao phong ngạc!
Thán giang sơn y cựu,
Thiên thôn liêu lạc.
Hà nhật thỉnh anh đề nhuệ lữ!
Nhất tiên trực độ thanh Hà Lạc?
Khước quy lai,
Tái tục Hán Dương du,
Kỵ hoàng hạc.

 

Dịch nghĩa

Xa ngắm Trung Nguyên,
Bên ngoài lớp khói hoang vu,
Rất nhiều thành quách.
Nhớ lại năm xưa,
Hoa che liễu rủ,
(Chốn) lầu phượng gác rồng.
Trước núi Vạn Tuế, giăng màu biếc, màu ngọc,
Trong điện Bồng Hồ, vang tiếng sênh, tiếng hát.
Tới hôm nay,
Quân thiết kỵ tràn đầy khắp nội,
Gió bụi mịt mù.

Dân ở đâu?
Lấp ngòi hang.
Quân ở đâu?
(Đem thân) làm trơn giáo mác.
Than thở nước non vẫn nguyên vẻ cũ,
Nghìn làng xơ xác.
Bao giờ mới nhận được cờ lệnh chỉ huy quân tinh nhuệ,
Vung roi vượt sông quét sạch Hà, Lạc!
Lại quay về,
Tiếp tục cuộc rong chơi ở Hán Dương,
Cưỡi chim hạc vàng.


Bài từ này còn mặc tích thủ bút của Nhạc Phi, gần đây, học giả Từ Dụng Nghi mới phát hiện được và đưa ảnh chụp vào cuốn Ngũ thiên niên lai Trung Hoa dân tộc ái quốc hồn, dưới bài từ còn có lời bạt của Tạ Thăng Tôn 謝昇孫, Tống Khắc 宋克, Văn Trưng Minh 文徵明...

Trong lời bạt của Tạ Thăng Tôn cuối đời Nguyên có nói: “Khi người Kim phế Lưu Dự, ông (Nhạc Phi) muốn thừa cơ tính Trung Nguyên nên mới viết bài từ này để tác động đến quan lại trong triều đình”, lại nói thêm “có thể thấy tấm lòng trung với nước của ông”.

Năm Thiệu Hưng thứ 7 đời Tống Cao Tông (1137), Nguỵ Tề Lưu Dự bị người Kim phế bỏ, Nhạc Phi xin triều đình tăng quân, muốn thừa cơ để khôi phục Trung Nguyên, nhưng không được triều đình chấp nhận. Mùa xuân năm sau, Nhạc Phi phụng mệnh dẫn bộ quân quay về lưu thủ Ngạc Châu (nay là thành phố Vũ Hán - tỉnh Hồ Bắc). Nhiều học giả cho rằng, bài từ này sáng tác trong thời kỳ ở Ngạc Châu.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (5 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nam Long

Xa ngắm Trung Nguyên,
Bao thành quách,
Khói mù man mác.
Nhớ khi xưa,
Hoa giăng liễu rủ,
Mấy tầng lầu gác.
Vạn Tuế non kia phô vẻ ngọc,
Bồng Hồ điện nọ vang lời nhạc.
Thế mà nay,
Vó sắt nát giang sơn,
Tung bụi cát.

Dân đâu cả?
Khe vùi xác!
Quân đâu cả?
Chôn trận mạc.
Vẫn nước xưa non cũ,
Xóm làng tan tác.
Mong lúc trỏ cờ huy tướng sĩ?
Một roi đánh thẳng qua Hà Lạc!
Lại quay về,
Đến chốn Hán Dương chơi,
Cưỡi hoàng hạc.

Du ư nghệ
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Mãn giang hồng

Không hiểu sao bài từ "Mãn giang hồng" (máu nhuộm đầy sông) các vị tiền bối như Nam Trân không dịch mà cứ để nguyên tiếng Hán-Việt?

Bán đi những thứ dãi dầu
Mua về những thứ rặt mầu nhà quê
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Mãn giang hồng

Vì đó chỉ là tên điệu từ, nói chung không gắn với nội dung mà chỉ ám chỉ âm luật, phần sau dấu - mới là tên bài.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Mãn giang hồng

Xin lỗi đã nói không rõ ràng.
Ý tôi muốn nói là bài "Mãn giang hồng" (Nộ phát xung quan...) mà Nam Trân đã dịch đăng trước bài này.

Bán đi những thứ dãi dầu
Mua về những thứ rặt mầu nhà quê
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

đề mục

Vâng, bài nào thì cũng vậy ạ. Rất nhiều bài Tống từ không có đề mục riêng, mà thường dùng luôn từ điệu làm đề mục.
Điều này cũng gần giống với việc rất nhiều bài nhạc phủ có đề mục trùng nhau.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời