Chiêu quốc hồn văn

Việt Nam quốc nhân Nguyễn Thượng Hiền cẩn dĩ nhất phiến đan tâm, mãn thiên huyết hận, chiêu ngã Việt Nam quốc hồn nhi cáo chi viết:

Ô hô, quốc chi lưỡng chi gian, đại tiểu tuy thù,
Mạc bất hữu kỳ quốc hồn, nhi ngã độc vô.
Phỉ ngã quốc chi vô hồn, nhân tính thực ngu,
Duy lợi thị thị, duy danh thị xu,
Dĩ xiểm du vi đắc kế, thị trung nghĩa vi uý đồ.
Bất tri bang quốc điễn diệt chi khả thống,
Đãn tri thân gia phì noãn chi kham ngu.

Đương quốc cừu chi náo bại,
Thực hữu cơ chi khả đồ.
Hợp ngô quần khả dĩ phục Sở,
Phấn ngô lực khả dĩ chiểu Ngô.
Nhi nãi hôn hôn mặc mặc, triêu điểm mộ du,
Mị địch giả dĩ vạn kế,
Ứng nghĩa giả vô nhất phu.
Ai hĩ tai! Cử quốc giai bất tri miễn si?
Hà quái bỉ súc chi như khuyển trung đồn,
Nhi thát chi nhược viên hạ trư.
Ô hô! Quốc do tại thị, hồn tắc yêu tô?
Ngã kim đăng cao, phát thanh dĩ hô:
Tây cống chi vực, Đông kinh chi khu.
Hoan, Ái chi điện, Hương Bình chi đô.
Khởi vô nhất nhị nghĩa sĩ,
Niệm quốc nạn nhi khuông phù?
Khởi vô nhất nhị di dân,
Khích nghĩa niệm dĩ trì khu?
Ư dĩ tuyết chủng tộc chi sĩ, ư dĩ tẩy san hà chi ô.
Ô hô, hồn như khả tri, hạp quy lai hồ?
Anh phong kinh khi phản kỳ chân ngô.
Vật trầm luân ư nô giới, ô thử phát phu.
Vật bái kể ư lễ đình, nhục thử đầu lư!
Quy tai! Quy tai! Niệm nhĩ tiên tổ,
Nhược Lê Thuận Thiên đế chi phá địch,
Nhược Trần Hưng Đạo vương chi cầm Hồ.
Quy tai! Quy tai! Thị nhĩ lân cảnh,
Nhược Trung Hoa chi hưng ư Vũ vực,
Nhược Nhật Bản chi xưng hùng ư hải ngung.
Thiên nhân vạn nhân, các tề nãi tâm,
Nhất nãi lực, kiến nãi tích, hoằng nãi mô.
Xử thế giới chi nhân giai oa mục viết:
Bỉ Việt Nam giả kim dĩ năng phấn nhiên độc lập,
Bất cam vi Pháp-Lan-Tây nhân vĩnh thế chi nô.
Ô hô! Đồng bào!
Ngã nguyện tứ thiên niên minh linh chi quốc hồn,
Lại nhĩ tráng chi chi suy hư hoắc nhiên tại tô,
bất tuân bỉ nhất ban trư tâm cẩu phế,
Nô nhan tỳ tất dĩ cầu tô!

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Thạch Phương Linh

Ôi! Các nước trong trời đất, lớn nhỏ khác nhau,
Quốc hồn hết thảy đều có, hồn nước ta đâu?
Nào phải quốc hồn ta thiếu, vì tính ngu muội từ lâu,
Lợi thì ham muốn, danh thì đua nhau;
Cho xiểm nịnh là tài giỏi, thấy trung nghĩa thì quay đầu,
Không đau xót khi nước nhà tiêu diệt,
Chỉ vui sướng khi thân mình sang giàu.
Nay kẻ thù đương suy bại, chính cơ hội hiếm khôn cầu.
Phục nước Sở, ta hợp quần cho mạnh,
Đánh quân Ngô, ta nỗ lực cho mau.
Thế mà hôn mê mù mịt, hôm sớm ngao du,
Nịnh kẻ thù có vạn người đó,
Làm việc nghĩa thấy một ai đâu?
Thương vậy thay!
Cả nước đều không lòng tự sỉ,
Tất nhiên bị trói nhốt như gà như lợn,
Bị đánh đập như ngựa như trâu.
Than ôi! nước vẫn còn đó, hồn lạc nơi mô?
Ta nay lên trước, cất tiếng hô to:
Sài Gòn một cõi, Hà Nội một khu,
Thanh, Nghệ một dải, Hương Bình một đô,
Há không có một hai kẻ sĩ,
Thấy nạn nước ra sức khuông phù?
Há không có một hai người biết
Cảm điều nghĩa mà vùng dậy ru?
Để vì giống nòi phá tan hổ thẹn
Để vì sông núi rửa sách bùn nhơ?
Than ôi! Hồn như có biết, mau về đi thôi!
Danh thơm khí mạnh đến với giống nòi!
Chớ chìm đắm trong nô lệ, mà bẩn con người.
Chớ khúm núm trước thềm giặc, mà nhục cho đời.
Về ngay đi! Về ngay đi! Nên nhớ tiên tổ:
Như vua Lê Thuận Thiên diệt giặc giữ nước,
Như đức Trần Hưng Đạo phá Hồ lập công.
Về ngay đi! Về ngay đi! Trông gương nước bạn:
Như Trung Hoa đất Vũ Hán nổi dậy,
Như Nhật Bản trên mặt biển xưng hùng.
Muôn ngàn dân nước, thề quyết đồng lòng,
Góp công sức, dựng sự nghiệp, tính đến xong,
Khiến người thế giới đều ngạc nhiên khen tặng:
“Nước Việt Nam nay đã cố gắng giành lại độc lập,
Quyết không chịu làm thân tôi mọi cho Pháp đến cùng”
Hỡi đồng bào! Ta mong hồn nước thiêng liêng của bốn ngàn năm cũ
Đem lại chí khí anh hùng.
Chớ đừng bắt chước, chôn vùi tâm huyết như hạng người lòng heo dạ chó,
Cam kiếp tôi đòi để chịu diệt vong.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
24.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cử Tạ

Người nước Việt Nam là Nguyễn Thượng Hiền xin kính cẩn lấy mảnh lòng son và máu hận đầy trời, kêu gọi hồn nước Việt Nam mà bảo rằng:

Than ôi!

Nước lớn nước nhỏ tuy khác nhau, nhưng nước nào cũng có hồn, chỉ riêng nước ta là không thôi. Thật ra đâu phải rằng không có, nhưng khốn nỗi lòng người ngu si, quá đỗi say mê vì danh lợi, ưa thích điều nịnh hót, sợ sệt đường trung nghĩa nên trước cơ đất nước tan tành, đâu có biết xót, mà chỉ nghĩ sao cho vinh thân phì gia là được.

Hiện nay, nước thù đang bị thua trận, ấy tức là cơ hội cho ta khôi phục.

Họp đàn lại có thể gây dựng được bờ cõi;
Gắng sức lên có thể đánh tan được thù chung.
Cớ sao hôn hôn mê mê?
Sớm dua chiều nịnh.
Theo địch có hàng muôn chước,
Vì nghĩa sao không một người!
Thảm thương thay!
Cả nước không biết hổ là gì!
Chả trách nó coi như lợn nuôi trong chuồng, đánh cho như ngựa dưới xe.
Than ôi! Nước hãy còn kia!
Mà hồn đâu mất.
Ta nay lên cao, kêu gọi mấy lời:
Nào đất Sài Thành; nào miền Hà Nội;
Nào vùng Thanh, Nghệ; nào chốn Hương, Bình.
Há không ai người nghĩa sĩ, nghĩ thù ra tay cứu vớt!
Há không một người dân nào, vì nghĩa cả lên đường rong ruổi!
Để rửa nhục cho dòng giống;
Để tẩy xấu cho nước non.
Than ôi!
Hồn ở nơi đâu?
Sao chẳng về mau?
Chí giỏi tài cao, trở lại đường ngay.
Tóc ấy da ấy, chớ để làm tớ làm tôi;
Đầu óc kia, không nên vào luồn ra cúi.
Về đi, về đi!

Theo gương tiên tổ, như Lê Thái Tổ đuổi giặc Minh, như Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên.

Về đi! Về đi!

Xem gương láng giềng, như dân Trung Hoa dấy lên ở Vũ Xương, người Nhật Bản xưng hùng ở cõi khơi.

Nghìn người muôn người, dốc lòng nhau lại. Cùng gắng sức, cùng lập công, cùng bàn kế, đề cho người trên thế giới, ai ai cũng phải lác mắt nói: Kìa nước Việt Nam, nay đã vùng lên giành độc lập, không còn là nước tôi đòi của Pháp-Lan-Tây nữa.

Than ôi! Đồng bào!

Ta nguyện hồn thiêng của nước bốn nghìn năm sẽ nhờ hùng khí của tất cả quốc dân mà làm cho sống lại, không để bị mất về lũ kẻ lòng lang dạ sói với quân mặt thịt mày mo nữa.


Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời