Người Nam ta lạ là rất lạ,
Nông nỗi này nghĩ đã biết không?
Mà còn mê mẩn tâm hồn,
Mà còn hớn hở như phồn trẻ con.
Hỏi đến nước mất còn chẳng biết,
Kêu đến dân Nam Việt chẳng thưa.
Miễn no bữa sớm bữa trưa,
Ngoài ra ai hiếp ai lừa mặc ai.
Thấy nghèo đói than dài thở vắn,
Có hỏi thời đổ hẳn cho trời.
Biết đâu muôn sự trên đời,
Kiết hung hoạ phước tự người làm ra.
Thôi chẳng nói đâu xa lắc lắm,
Nói việc nhà chú gẫm mà ghê.
Suốt năm cấy mướn cày thuê,
Lúa đi đâu mất, tiền về tay ai?
Còn bề chú cả nhà đói rách,
Chủ chú đành ngảnh mặt ngơ tai.
Lúa tiền vay một trả hai,
Cong lưng làm mọi cả đời không cơm.
Đến đỗi chú đập rơm tẩy mót,
Chủ chú quơ sạch bót chẳng chừa.
Đó là tang tích sờ sờ,
Thế mà chú lại đổ thừa trời sao?
Chú nghèo đói thế nào mặc kệ,
Phép “quan trên” cứ lệ nỏ đầu.
Thường năm nạp thuế đi xâu,
Chú bằng trễ nải ở tù chai lưng.
Một thân chú muôn phần hắt hủi,
Chú tài gì chịu nổi được ai.
Thế mà chú lại kêu trời,
Trời nghe trời cũng buồn cười thế thôi!
Cười vì chú không suy xét kỹ,
Cứ đeo theo năn nỉ trời hoài.
Xem tình trời cũng đeo đai,
Trời liền chua xót phán sai mấy lời.
Phán rằng: “Hỡi dân cày Nam Việt!
Khéo bơ thờ chẳng biết lo xa.
Vì ai nên nỗi sút sa,
Cứ theo trách lẫn trời già chẳng công.
Cơ tạo hoá bay không thấu rõ,
Ngỡ rằng ta xui khổ khiến cùng.
Để ta bày hết thuỷ chung,
Ngỡ bay thấu rõ tấm lòng cao xanh.
Lúc ta mới giáng sanh nhân loại,
Định làm cho khỏi hại đói nghèo.
Vun bồi ruộng đất phì nhiêu,
Hoá sanh năm thóc mỹ miều xiết bao.
Cả thế giới xứ nào xứ nấy,
Ruộng đất trời cày cấy làm ăn.
Cầm cân rất mực công bằng,
Lo cho bay được đồng phần ấm no.
Khốn vì phải những đồ gian ác,
Từ Tây dương chiếm đoạt bao la.
Của chung thu gọn của nhà,
Nỡ lòng khắc bạc hành hà chúng bay.
Ta thấy thế chau mày xót ruột,
Định ra tay thay cuộc đổi dời.
Làm cho khắp cả nơi nơi,
Đất chung của sẵn như đời cổ sơ.
Hiềm vì nỗi bay khờ khạo quá,
Cứ cam tâm chịu ngã một bề,
Tha hồ kẻ ép người đè,
Đành thân trâu ngựa cam bề đắng cay.
Ví bay chẳng đứa nầy đứa khác,
Hiệp một đoàn liên lạc với nhau.
Ra tay đuổi đánh quân thù,
Còn chi lũ nó thị hào hiếp cô!
Bởi trên có tham ô chính phủ,
Bênh vực nhà điền chủ hiếp bay.
Khoa trương gươm bén súng hay,
Nào là tàu lặn máy bay thị cường.
Chúng bay muốn trừ phường áp chế,
Ta bày cho một kế rất mầu.
Những là các hạng thuế sưu,
Nó đòi bây cứ yêu cầu xin thương.
Nếu mà nó thị cường ép bức,
Chúng bay đồng kéo rốc nhau ra.
Vợ chồng, con cái, mẹ cha,
Đồng lòng kéo hết đến nha chịu tù.
Chúng bay cứ đâu đâu cũng thế,
Dẫu việc gì cũng dễ như ăn.
Dại gì nằm bẹp chịu lằn,
Mà không cựa quậy nói năng điều gì.
Kìa chẳng thấy dân cày Ấn Độ,
Cũng cường quyền khắc khổ thể bay.
Găng-đi nóng ruột ra tay,
Mở đường giải phóng tẩy chay bọn này.
Kêu dân chúng hiệp bầy kết đảng,
Đồng một lòng phản kháng Hồng Mao.
Xiết bao sôi nổi phong trào,
Cường quyền hăm doạ chẳng nao núng gì.
Các hạng thuế, thuế chi cũng mặc,
Định làm cho bỏ bặt mới thôi.
Tẩy chay vừa mấy năm trời,
Hồng Mao giờ phải nín hơi chịu mềm.
Sao bay cứ êm đềm thế mãi,
Muôn việc đều đổ vãi cho ta!
Nhưng ta đã đạo làm cha,
Nỡ nào thấy thế ngồi mà làm thinh!
Đã lắm lúc hiện hình biết tướng,
Để dẫn đường chỉ hướng cho bay.
Hô hào suốt mấy năm nay,
Vẫn trơ như loại cỏ cây vô tình.
Bao nhiêu nỗi bất bình bay đó.
Muốn phá mà nào có khó chi.
Mưu ta cứ thế làm đi,
Đồng lòng hiệp sức tức thì được ngay!
Tội gì chịu đắng cay mãi mãi,
Chẳng cất đầu ngó lại người ta.
Kìa như dân ruộng Trung Hoa,
Trước khi nó cũng sút sa khốn cùng.
Cũng điền chủ lường công cướp việc,
Cùng triều đình thuế nghiệt sưu cao.
Tôn Văn đứng trước hô hào,
Bao nhiêu dân ruộng ồn ào nổi lên.
Bèn vùng vẫy bao phen kịch liệt,
Đuổi Mãn Thanh trừ tuyệt cường quyền.
Tóm thu ruộng đất chủ điền,
Chia cho công chúng ở yên cấy trồng.
Bởi vì nó đồng lòng hiệp sức,
Mới thành ra khỏi cực khỏi nghèo.
Bay đâu kẻ réo người kêu,
Thế sao vẫn cứ nằm queo vậy hoài?
Mau đứng dậy làm liều một chuyến,
Trên có ta điều khiển sợ gì.
Tôn Văn kia với Găng-đi,
Cũng ta biến hoá hộ trì chớ ai.
Bay vốn cũng chân tay, đầu mắt,
Cũng ruột gan, cũng mặt con người.
Thế mà chẳng biết hổ ngươi,
Khum lưng cúi óc cho người trèo lên.
Làm đến nỗi nhơ tên dân Việt,
Để nước ngoài kẻ nhiếc ngươi khinh.
Chúng bay muốn cứu lấy mình,
Biết câu trọng nghĩa khinh sinh mới là.
Việc đời lẽ gần xa chỉ rõ,
Chữ đồng tâm chớ có phôi pha.
Thi hành cho đúng mưu ta,
So cùng dân ruộng Ấn, Hoa kém gì.
Đừng dùn thẳng bàn đi tính lại,
Mà nghi nan rằng bại rằng thành.
Ra tay liệt liệt oanh oanh,
Phá tan giai cấp bất bình ngay đi.
Huống nay đã gặp thì gặp thế,
Dại gì ngồi mà để thất kỳ.
Mấy lời phán trước đơn trì,
Chúng bay âu phải chép ghi vào lòng.”
Lời Thượng Đế vô cùng thâm thiết,
Diễn ra đây cống hiến chư tôn.
Nhờ tay truyền bá hương thôn,
Gọi là ba bảy chiêu hồn nông dân.
Cứu sống lại tinh thần tương ái,
Tổ chức thành một dải đồng tâm.
Ra tay rửa trắng thù thâm,
Sao cho khỏi phụ thiên tâm mới là,
Có trời mà cũng có ta...


Bài thơ này viết vào khoảng năm 1928, 1929 và rất ảnh hưởng đến tinh thần cách mạng của nông dân lúc ấy nên thực dân Pháp đã ra lệnh tịch thu và trừng trị những người nào lưu trữ.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968