乙亥八月十六日哭家弟叔荃

芊芊遺跡聽哀鳴,
瑟瑟秋聲葉落聲。
猶是月明三徑菊,
謂何風剪一枝荊。
醉余花甲難成席,
著汝斑衣不在庭。
競賦鴒原無少補,
佛前頂禮諷心經。

 

Ất Hợi bát nguyệt thập lục nhật khốc gia đệ Thúc Thuyên

Thiên thiên di tích thính ai minh,
Sắt sắt thu thanh diệp lạc thanh.
Do thị nguyệt minh tam kính cúc,
Vị hà phong tiễn nhất chi kinh.
Tuý dư hoa giáp nan thành tịch,
Trước nhữ ban y bất tại đình.
Cạnh phú linh nguyên vô thiểu bổ,
Phật tiền đính lễ phúng tâm kinh.

 

Dịch nghĩa

Tiếng chim ai oán kêu bên lối đi cũ còn vết rêu xanh
Tiếng gió thu cùng tiếng lá rơi xào xạc
Vẫn ánh trăng thanh treo bên ba luống cúc
Mà tại sao gió làm gẫy một cành cây Kinh
Ta tóc đã bạc đã sáu mươi tuổi mà thiếu người để cùng say
Lại thiếu bóng em mặc áo mầu múa trong sân đình
Ca tụng chim chìa làm gì nữa
Lên đài lễ Phật tụng tâm kinh


 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Hữu Vinh

Chim sầu lối cũ cỏ còn xanh
Xào xạc thu sang rụng lá cành
Đây cũng trăng chờ ba luống cúc
Mà đâu gió cuộn một cành Kinh
Để ta bạc tóc ai say với
Thiếu áo mầu em sân vắng tanh
Ca tụng chim chìa đâu ý nghĩa
Phật đài đãnh lễ tụng tâm kinh

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Chim kêu ai oán lối rêu xanh,
Tiếng gió thu cùng tiếng lá cành.
Vẫn ánh trăng thanh bên luống cúc,
Mà sao gió gẫy một cành Kinh.
Cùng ta tóc bạc ai say với,
Thiếu áo mầu em múa tại đình.
Ca tụng chim chìa làm chi nữa,
Lên đài lễ Phật tụng tâm kinh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời