Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thơ mới tám chữ
Thời kỳ: Hiện đại
Từ khoá: Hoàng Hoa Thám (8) cách mạng (150) yêu nước (34)

Đăng bởi tôn tiền tử vào 16/08/2020 12:18

Đọc mấy lời trong bức thư cha nhủ,
Dòng lệ con hoen ố mảnh nhung y.
Nhớ ngày nào mang chí lớn ra đi,
Trong dĩ vãng cha ghi nhiều kiêu hãnh.
Kìa lưỡi kiếm máu kẻ thù còn dính,
Mà anh hùng tim lạnh bởi hư vinh.
Trong phong ba vùng vẫy bóng nghê kình.
Nơi rừng xanh tung hoành con mãnh hổ,
Ham mồi ngon ủ rũ chốn chuồng con.
Bả vinh hoa làm mất cả tâm hồn,
Và lay chuyển cả lòng son dạ sắt.
Mây Hồng Lĩnh con mịt mù u uất,
Sông Nhị Hà còn chứa chất căm hờn.
Thì đời con là của cả giang sơn,
Dù thịt nát xương tan đâu dám kể.
Rồi những lúc cha vui vầy vị kỷ,
Là khi con rầu rĩ khóc non sông.
Đêm canh trường cha nệm ấm chăn bông,
Nơi rừng thẳm con nằm gai nếm mật.
Cha hít thở hương trầm bát ngát,
Pha lẫn mùi máu thịt của lê dân.
Thì mũi con nghẹt thở, cổ khô khan,
Tai vẳng tiếng hồn oan trong thảm cảnh.
Cha, nơi ngực đầy mề-đay kim khánh,
Con, bên sườn lấp lánh kiếm tiên cừu.
Cha say mê bên thiếu nữ yêu kiều,
Con tận tuỵ với tình yêu tổ quốc.
Nghĩa là cha đem tài năng trí óc,
Mưu vinh thân là mục đích cuối cùng.
Thì con thề đem xương trắng máu hồng,
Ra cứu vớt non sông là chí nguyện.
Cha với con thế là hai trận tuyến,
Cha một đường mà con tiến một đường.
Thôi từ đây hai chữ cang thường,
Con mở rộng để dâng thờ Tổ quốc.
Buổi đoàn viên thôi cha đừng mong ước,
Cuộc hội đàm là đại bác thần công.
Bức thơ đây là bức cuối cùng,
Mà cha chỉ là cha trong dĩ vãng.
Thôi hạ bút cho thâm tình gián đoạn,
Để người đời kết án kẻ gian phi.
Thanh gươm thần ta tuốt sẵn chờ khi...


Hoàng Hoa Thám (1836 - 10/2/1913) tục gọi là Đề Thám, Đề Dương hay Hùm thiêng Yên Thế, vốn tên là Đoàn Văn Nghĩa, sau đổi là Trương Văn Nghĩa rồi Trương Văn Thám, người làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1885-1913) chống Pháp. Năm 1893, Lê Hoan dụ hàng được cha nuôi của Đề Thám là Bá Phức. Vì ham tiền giặc, Bá Phức phản lại cả tình nghĩa núi sông và luôn cả tình nghĩa cha con, vâng lệnh tên phản quốc Lê Hoan, đem tạc đạn giấu theo trong mình vào chiến khu cụ Thám, lấy nghĩa cha vào thăm con, để thừa cơ hội gài tạc đạn giết con, lấy công dâng “nhà nước bảo hộ”. Âm mưu bại lộ, Đề Thám tương kế tựu kế, mai phục đánh úp. Quân Pháp và lính khố xanh bị thiệt hại rất nặng. Thời gian này vào khoảng tháng 5-1894.

Nguyễn Mậu Chi nhân sự tích trên, mượn lời Hoàng Hoa Thám gửi cho cha nuôi là Bá Phức để dứt tình phụ tử, viết ra với mục đích để kích thích tinh thần yêu nước diệt thù của các bạn thanh niên. Theo anh em chính trị phạm được giải phóng năm 1945 thì bài này viết tại Côn Đảo vào khoảng năm 1944. Trước đây có một số người lầm cho là của Tố Hữu.

Nguồn: Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, NXB Khai Trí, 1968