Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn cổ phong
Thời kỳ: Nguyễn

Đăng bởi Vanachi vào 13/12/2018 10:38

Năm Nhâm Dần, tháng giêng ngày vọng,
Nhơn lúc nhàn, võ lộng bút nghiên.
Dạo Nam kỳ, sáu tỉnh sơn xuyên,
Xem nhơn vật, đủ miền mọi chỗ.
Ơn tứ hải, đệ huynh điều độ,
Giúp hành trình, phí lộ kim ngân,
Hơn năm dư, chép thảo lần lần,
Thành một cuốn, xa gần các hạt.
Cách đặt dùng, quốc âm lục bát,
10. Cộng hai mươi hai hạt nhỏ to.
Biết bao nhiêu, công khó đắn đo,
Cứ việc thật, không trò thêm bớt.
Giọng quê kịch, nhiều lời thưa thớt,
Vận dưới trên, non nớt chưa liền.
Tự Vũng Tàu, dĩ chi Hà Tiên,
Qua Châu Đốc, xuống miền Sa Đéc,
Tới mỗi hạt, trải chơi thăm xét,
Hỏi đon ren, mới biết ngọn ngành,
Những lớp xưa, người trước có danh,
20. Với thổ sản, dân tình phong tục.
Quan giám khảo, xem tường trong đục,
Lấy đậu rồi, mấy lúc chưa in.
Đinh Thái Sơn, có dạ thương tin,
Chịu hao tốn, ấn hành đãi hậu.
Gọi là để, khoá đồng tập ấu,
Đâu dám rằng, tú khẩu cẩm tâm.
Lẽ xưa nay, thuỷ bất tại thâm,
Có rồng ở, thì đầm linh hiển.
Phận già cả, tiếc vì kinh điển,
30. Đã bấy lâu, rừng biển minh mông.
Dầu khen chê, miệng thế thường đồng,
Phò danh giáo, xúc công tiểu bổ.
Chẳng phải bì, Mã Thiên, Ban Cố,
Dấu sử xanh, kim cổ lưu truyền.
Song cũng là, cờ chím nước tiên,
Roi sự tích, niên niên trường cữu.


Nguồn: Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, tập 1, Libraire Imprimeur, Saigon, 1909