Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Lục bát
Thời kỳ: Nguyễn
Từ khoá: Tây Ninh (8)
Đăng bởi Vanachi vào 13/12/2018 11:22

Tây Ninh phong cảnh thi:
Tây Ninh địa cảnh giáp Mên man,
Bố án hai toà đặt đủ quan.
Miễu Cả anh linh nơi chợ Trảng,
Điện Bà hiển hít chốn Linh Sang.
Hương đèn bông trái người năng cúng,
Cây ván dầu chai nghiệp cũng nhàn.
Làng tổng nơi nơi còn thói cựu,
Xứ tuy rừng núi lắm khôn ngoan.


Tây Ninh đất lắm hoang nhà,
Coi ra bưng hố hầm hang tư bề.
Rẫy trồng mía, thuốc, đậu, mè,
Cây bàng đương đệm bán về các nơi.
Dầu chai gỗ ván quá trời,
Lúa sạ ba tháng lộc trời phì nhiêu.
Trái cây không có bao nhiêu.
Mây rừng các thứ thiệt nhiều lắm thay.
Châu Thành đường sá sạch ngay,
10. Hai ty Phan, Niết, sắp bày nghiêm trang.
Lính tây đồn lập kỹ cang,
Phố phường đông đảo dọc ngang mấy hàng.
Thái Bình, Chợ Mới, sửa sang,
Hiệp Ninh, Chợ Cũ hai làng giáp ranh.
Cựu trào kêu phủ Tây Ninh,
Ngày nay phong cảnh lịch xinh chỉnh tề.
Thịt rừng chợ bán ê hề,
Tứ dân sanh ý các nghề đủ tiêu.
Cá tôm khí vị mĩ miều,
20. Ao rạch ít nhiều vật dưỡng người ta.
Tàu đò thường lúc vào ra,
Đậu nơi Bến Kéo xe mà chở chuyên.
Tây ninh mấy dặm xa miền,
Mới bày xe máy đường liền chạy hay.
Điện Bà xưa những đến nay,
Thiệt là một chỗ cao dày linh chung.
Dưới chưng có cảnh Chùa Trung,
Kề bên sẵn suối nước trong thấy trời.
Người đều tới đó nghỉ ngơi,
30. Khiết tinh mộc dục lên nơi Điện Bà.
Trèo lên ba dốc nguy nga,
Tới miễu Ông Tà ngó thấy cây sao.
Cây sao sanh trưởng năm nào,
Một vừng đồ sộ ôm vào xiết chi.
Kề bên có tháp từ bi,
Rõ ràng thiệt phải chỗ thì sơn môn.
Điện Bà đá mọc nghiễm tôn,
Lài lài một mái càng khôn tạo thành.
Nam kỳ người thảy huý danh,
40. Cầu con cầu thuốc kỉnh thành biết bao.
Tới lui những khách phú hào,
Thơ bài ngâm vịnh thấp cao dán cùng.
Trung gian suối chảy đùng đùng,
Phía tiền hố thẳm lạnh lùng sợ thay.
Ước chừng năm bảy năm nay,
Nhãn lồng, trầu lá, mãn cầu, xoài voi.
Sơn sơ đậu nọc bỏ vòi,
Hột làm vị thuốc hẳn hòi thiệt hay.
Hang Ông Chàm có ông thầy,
50. Tục kêu Ông Nhỏ ở rày trì tu.
Đường đi lên dảnh du nhàn,
Qui mô hẹp nhỏ phòng đàng hứng chơi.
Éo le vì bởi tại nơi,
Cho nên ít thuở thảnh thơi đến thường.
Linh Sang Tiên Thạch tỏ tường,
Tên chùa mới đặt cột rường xa ba.
Của người công cộng gần xa,
Phí hao thiên vạn mới là mĩ quan.
Rày thêm phong cảnh rỡ ràng,
60. Bởi vì chung sức thế gian tu bồi.
Chúng tăng mấy chú làm tôi,
Giữ lòng chơn thiệt coi ngôi của Bà.
Cách đó cũng không bao xa,
Đường qua Đá Bạc lại là quanh co.
Y nhiên vẽ bức hoạ đồ,
Ngàn thu hiển hít liễu bồ phong tư.
Lục châu chiêm ngưỡng linh từ,
Thành tâm cảm cách phỉ chừ ước ao.
Có hòn Đảnh Cậu cũng cao,
70. Kề bên chùa Phật ra vào nghe chuông.
Tương rau chay lạt luôn luôn,
Mấy ông thầy sãi vui buồn mà chi.
Đã đành hai chữ từ bi,
Sớm khuya mật niệm Mưu ni, Thích già.
Suối Vàng gần đó chẳng xa,
Suối Vàng tên có vàng mà vốn không.
Cái Cùn chỗ núi gần sông,
Có chùa hình đá năm ông rỡ ràng.
Trong ngoài làm những đá toàn,
80. Trải bao binh hoả thương tang hãy còn.
Dấu linh tạc để sông non,
Mặt mày hiền hậu không mòn nét da.
Lái bè mấy chú lại qua,
Ghé vô khẩn vái đều là bình an.
Rồi đem lễ tạ bỉ bàng,
Nhiễu sô hàng thiệt vắt tràng nơi trong.
Chỗ là vắng vẻ quạnh không,
Hiêu hiêu hơi gió ngoài sông lạnh lùng.
Rừng già bốn phía điệp trùng,
90. Cọp voi thú dữ hay rông ra thường.
Phần thời hiểm trở nẻo đường,
Nên trẻ điếm đường chẳng dám vào ra.
Những đồ sô nhiễu lụa là,
Để đâu còn đó ai mà tham gian.
Phong thổ ít chuyện bạo tàn,
Ít khi dịch khi tai nàn hại dân.
Các giồng mấy chỗ cư dân,
Lớn nhỏ hương chức cựu tân thiệt thà.
Thần từ miễu võ gần xa,
100. Nghi văn tế lễ cũng là lệ xưa.
Chữ nhu còn hãy dây dưa,
Tôn ty phép tắc vừa vừa dễ coi.
Cang thường luân lý dấu roi,
Quan hôn tang tế tục noi theo hoài.
Nhà thờ giảng đạo hôm mai,
Gội nhuần ơn Chúa chẳng sai tấm lòng.
Lái Triều tiếng cũng phú ông,
Sanh tiền thường cúng của trong thánh đường.
Phía quan phía tổng có trường,
110. Mấy thầy giáo tập dạy thường siêng năng.
Tây Ninh phong tục làm ăn,
Nhờ trong rừng núi bổn căn bạc tiền.
Thợ rừng sanh lý rất siêng,
Dàu chai, sáp mật, đi miền bên Phan.
Xứ thời không mấy giàu sang,
Thiệt thà bền chắc dân an nghiệp nhà.
Lịch thay phong cảnh Trảng Bàng,
Lợi nhờ rẫy thuốc bạn hàng quá đông.
Tên ông Tề người biết cùng,
120. Thuốc ngon trữ bán đồn trong xóm làng.
Nhơn dân đông đảo an nhàn,
Có ngôi giếng mạch rõ ràng ngọt thanh.
Tự nhiên một chỗ thiên thành,
Cạn mà mạch tốt nước sanh đời đời.
Xanh quanh nội chợ các nơi,
Người ta ăn uống thảnh thơi lạ tình.
Thiện nam tín nữ lòng thành,
Chung tiền sửa đắp lịch xinh một toà.
Chánh trung hương hoả thờ Bà,
130. Ngoài hai hộc nước xây ra có ngằn.
Xóm riềng kẻ tắm người ăn,
Lớp lui lớp tới lăng xăng chật đường.
Nước đâu trong mạch thường thường,
Chảy ra hai hộc ngày trường dinh dư.
Gần xa bốn phía thôn khư,
Uống ăn khoẻ mạnh dân cư cậy nhờ.
Giữa chợ có làm miễu thờ,
Thờ ông cả Trước đến giờ linh thiêng.
Phố mười chín căng phía tiền,
140. Phía sau mười chín khuôn viên kỹ càng.
Thuở xưa gầy dựng Trảng Bàng,
Bởi ông cả Trước gian nan nhiều bề.
Nay thành một chỗ chỉnh tề,
Đình chùa phố xá phủ phê trong ngoài.
Công ơn người thảy cảm hoài,
Chung nhau lập miễu thờ ngài thuở nay.
Mỗi năm kị lạp đến ngày,
Nghi văn phẩm tiết đặt bày khiết tinh.
Tứ bàn tổng xã xanh quanh,
150. Cử kêu tên Trước kỉnh thành không sai.
Tiền hiền sự nghiệp lâu dài,
Như ông cả Trước nào ai dám bì.
Tại làng Gia Lộc vĩnh vi,
Tổng Hàm Ninh Hạ nguy nguy miễu đường.
Mả ngài tế tảo thường thường,
Bùng Binh, Bến Súc, là đường mộ cơ.
Ở trong đất nước cõi bờ,
Khá khen hương chức chẳng ngơ tấm lòng.
Thuỷ nguyên mộc bổn thỉ chung,
160. Biển dâu dời đổi cũng không phụ phàng.
Thương vì kinh sử cửu oan,
Mà gương trung hậu lại càng tỏ soi.
Phong thuần tục mỹ dễ coi,
Trăm ngàn thu dưới dấu roi cang thường.
Nhiều tay nhà cửa cột rường,
Nhiều tay danh tiếng hào cường xã thôn.
Nhiều tay sang trọng quyền môn,
Nhơn cơ nghĩa chỉ bảo tồn cổ phong.
Tây Ninh đất núi minh mông,
170. Lợi nhờ thổ sản điệp trùng ván cây.
Nhơn dân ăn chắc mặc dày,
Thờ thần chuộng Phật lòng hay kỉnh thành.
Hiềm vì tăng chúng gian manh,
Tham tâm trục lợi mong sanh thói tà.
Kiết Ma Thoại, chùa Điện Bà,
Đương kim hiện tại thật là vô lương.


Nguồn: Nguyễn Liên Phong, Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, tập 1, Libraire Imprimeur, Saigon, 1909