414.27
Nước: Việt Nam (Hiện đại)
1628 bài thơ, 124 bài dịch
3 bình luận
5 người thích

Thơ đọc nhiều nhất

Thơ thích nhất

Thơ mới nhất

Tác giả cùng thời kỳ

- Xuân Diệu (332 bài thơ)
- Tố Hữu (246 bài thơ)
- Hàn Mặc Tử (206 bài thơ)
- Trần Đăng Khoa (151 bài thơ)
- Nguyễn Bính (228 bài thơ)
Tạo ngày 13/11/2008 09:53 bởi Vanachi, đã sửa 1 lần, lần cuối ngày 28/12/2018 06:26 bởi tôn tiền tử
Nguyễn Lãm Thắng (1973-) vừa là bút danh vừa là tên thật, ngoài ra còn có các bút danh danh khác là Lãm Thắng, Lam Thuỵ và các bút danh viết cho thiếu nhi: Nguyễn Trần Bảo Nghi, Du Lãm, Nhật Quang... Anh sinh ngày 14-8 năm 1973 (Quý Sửu), quê tại làng Tịnh Đông Tây (Hà Dục), Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam. Tốt nghiệp cử nhân văn-hoạ Trường Đại học Sư phạm Huế năm 1998, hiện là giảng viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Huế, là hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế, trưởng Gia đình Áo trắng Huế.

Giải thưởng:
- Giải thưởng báo Mực tím (Gửi tới yêu thương) năm 2003
- Giải thưởng Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế 2007

Có thơ đăng ở nhiều tạp chí trung ương và địa phương: Kiến thức ngày nay, Nhân dân, Sông Hương, Tuổi trẻ, Tài hoa trẻ, Áo trắng,…

 

  1. 12:38 AM 01/01/2017
  2. Á đù!
  3. A Sầu
  4. Ác mộng
  5. Ác mộng dài
  6. Ai cũng có công
  7. Amen
  8. An ủi
  9. Anh
  10. Anh bù nhìn
  11. Anh dế mèn
  12. Ảnh động
  13. Anh đưa tay mò con ốc bươu trong hang
  14. Anh lục tìm em trong màu gió biếc
  15. Ánh mắt
  16. Anh nếm mùi buổi sáng bằng đôi mắt em
  17. Anh phân biệt
  18. Ánh sáng là sự trần truồng của tiếng thở
  19. Ánh sáng tàu điện ngầm
  20. Anh ta châm điện
  21. Anh thận trọng sắp lại từng hơi thở
  22. Anh thích trà sữa
  23. Anh xe lu
  24. Áo mưa mỏng
  25. Ao sen cuối mùa
  26. Áo sờn đẫm mồ hôi
  27. Áo trắng mùa thu
  28. Ăn một miếng cơm
  29. Ăn ở ra răng hổng biết
  30. Âm
  31. Âm thanh mùa thu
  32. Âm thanh ngày
  33. Âm thanh trước tiếng gà gáy
  34. Ấy bỏ cả tiếng đồng hồ
  35. Ấy chết
  36. Ấy chỉ thích trẻ con cười hồn nhiên với mình
  37. Bà lão bán hột vịt lộn
  38. Bà nội vào bếp
  39. Bà và mẹ
  40. Bác chổi chà
  41. Bài cho xuân muộn
  42. Bài hát buồn của loài chim tổ rách
  43. Bài hát cho con
  44. Bài hát thầy dạy
  45. Bài hát trở về
  46. Bài học nho nhỏ
  47. Bài học vỡ lòng
  48. Bài thơ dâng thầy
  49. Bài vè hát chơi
  50. Bạn ảo
  51. Bản Iều
  52. Bản kiểm điểm cá nhân
  53. Bản năng khóc
  54. Bàn tay nhỏ
  55. Bạn trong vườn xanh
  56. Bánh tráng nướng
  57. Bão
  58. Bao La lạnh
  59. Bảo Lộc
  60. Bão quật
  61. Bày đặt
  62. Bay lên thế hệ trẻ Việt Nam
  63. Bay lên với gió
  64. Bắt gà
  65. Bậc thềm xưa
  66. Bâng khuâng sân trường cũ
  67. Bập bênh
  68. Bất chợt gặp giữa đường
  69. Bầu trời không đáy
  70. Bây chừ em đã hiểu chưa?
  71. Bé cưng
  72. Bé hát karaoke
  73. Bé hỏi
  74. Bé là bé ngoan
  75. Bé làm bánh trứng
  76. Bé làm hoạ sĩ
  77. Bé ngoan
  78. Bé tắm biển
  79. Bé tự hiểu ra
  80. Bé và báo Nhi đồng
  81. Bé và em
  82. Bé vẽ
  83. Bét con mắt
  84. Bê con
  85. Bên bờ sông
  86. Bên cánh rừng khuya
  87. Bến câm
  88. Bên eo Nín Thở
  89. Bên góc chùa làng
  90. Bên góc thành cũ
  91. Bên này và bên kia
  92. Bên ngõ phế thành
  93. Bên ngoài cửa sổ
  94. Bên ngoài và bên trong
  95. Bến sông chiều
  96. Bên tê bên ni
  97. Bến xuân
  98. Bệnh
  99. Bệnh lý
  100. Bệnh nan y
  101. Bi chừ vẫn Huế
  102. Bi chừ xa xăm
  103. Bi kịch
  104. Bí mật của thủ môn
  105. Biển gọi bình minh
  106. Biên Hoà đêm xa em
  107. Biên Hoà, đêm xa em
  108. Biến tấu hạnh phúc
  109. Biển thức
  110. Biết đâu
  111. Biết hợp sức lại
  112. Biệt khúc Mylee
  113. Bình minh có nhiều chiếc lá xanh rơi rụng
  114. Bò gặm cỏ xanh
  115. Bóc một lớp da xù xì trên cây cổ thụ
    1
  116. Bóng
  117. Bong bóng trôi lẩn quẩn phía góc trời không chân
  118. Bóng chiều tà
  119. Bóng đèn điện trong lồng chim
  120. Bóng đèn đường sáng trong đêm rồi tắt
  121. Bóng đèn trong lồng chim
  122. Bóng đêm
  123. Bóng khuya
  124. Bóng trưa
  125. Bốn mùa
  126. Bốn mùa hoa
  127. Bông hoa trên bãi biển
  128. Bông lúa nặng hạt
  129. Bơ vơ lạnh đến rùng mình
  130. Bởi họ học ở giảng đường GIII4
  131. Bụi
  132. Bụi đỏ làm nhoè dần bóng chị trên ruộng nắng
  133. Buộc
  134. Buổi chiều bên những ngôi mộ hoang
  135. Buổi chiều không ở lại
  136. Buổi chiều kinh rụng
  137. Buổi sáng bên hè
  138. Buổi sáng đông cứng
  139. Buổi sáng quê nội
  140. Buổi sáng trong rừng cũ
  141. Buổi sáng tự do
  142. Buổi sáng và những hột mưa đen
  143. Buổi tối rảnh rỗi xem phim ma cà rồng
  144. Buổi trưa ở làng
  145. Buổi trưa trên lăng Tự Đức
  146. Buổi trưa trong rừng cấm
  147. Buổi xa người
  148. Buồn đem xương thịt phơi bày
  149. Buồn không hở núi?
  150. Buồn như
  151. Búp măng
  152. Bức tranh ban trưa
  153. Bức tranh chiều thu
  154. Bừng giấc
  155. Bước chân con kiến
  156. Bước chân đầu tiên
  157. Bước mùa
  158. Bướm xuân
  159. Cà dái dê
    1
  160. Ca dao
  161. Cà phê sớm
  162. Cà phê và ngó
  163. Cái bóng nặng gấp mấy lần thân xác
  164. Cái chết & sự thật
  165. Cái chết tồn tại trong ta
  166. Cái con chìa vôi
  167. Cái đầu với nhiều kiểu tóc
  168. Cái gạt tàn thuốc là cái tiểu sành
  169. Cái gì nghiêng?
  170. Cái hũ sành lủng đít
  171. Cái mặt [trời] méo xệch chui qua con hẻm ngập rác
  172. Cái nắng đi chơi
  173. Cái nóng 38 độ
  174. Cái trống trường em
    2
  175. Cám dỗ
  176. Cảm giác
  177. Cảm ơn Huế
  178. Cảm thông
  179. Cạn đêm
  180. Cánh chim tụng ca tình yêu vĩnh cửu
  181. Cánh dơi
  182. Cánh đồng
  183. Canh rau dền rỏ máu
  184. Cánh thư anh gửi
  185. Cát
  186. Cắn nhau một cá rô đồng
  187. Căn phòng trọ
  188. Cắt từng phần thể xác
  189. Câm
  190. Cầm tay mùa thu
  191. Cậu bé mua vé số
  192. Câu hỏi
  193. Câu kinh rong chơi
  194. Câu nói của đứa bé mồ côi
  195. Câu nói của kẻ đang chết
  196. Cầu thang
  197. Câu thơ bung gai giữa ngày không nắng
  198. Cây bàng trơ trụi
  199. Cây cau
  200. Cây gòn
  201. Cây ngô
  202. Cây thảo nhơn
  203. Cây xanh
  204. Cây xoan
  205. Cha chết
  206. Cha nằm viện
  207. Chạm mưa mà nhớ
  208. Chán thiệt luôn
  209. Chảnh
  210. Chào ngày cũ
  211. Cháo nhuyễn tâm linh
  212. Chạp qua sông vắng
  213. Cháu vẽ
  214. Chảy hay trôi
  215. Chạy ngược từ ngã ba Ái Nghĩa
  216. Chạy thể dục
  217. Chạy trong đêm giao thừa
  218. Cháy vào mắt xanh
  219. Chạy xe từ phố về làng
  220. Chăn nệm ấm áp
  221. Chăn trâu
  222. Chắp tay
  223. Chấm hết hoặc dừng tại đây
  224. Chân dung tự hoạ
  225. Chậu tắm
  226. Châu Thuỷ
  227. Chết
  228. Chí
  229. Chỉ trong đêm tối
  230. Chị và em
  231. Chia sẻ
  232. Chiếc bàn em học
  233. Chiếc bỉm hút nước đái con trẻ
  234. Chiếc khăn mùa đông
  235. Chiếc lồng bàn
  236. Chiếc mào sứt
  237. Chiếc mặt nạ
  238. Chiếc răng hỏng
  239. Chiều cao nguyên
  240. Chiều chia tay nắng Hòn Chồng bên cây thảo nhơn
  241. Chiều cuối năm nhớ mẹ
  242. Chiều cuối năm, Huế mưa, nhậu một mình
    1
  243. Chiều Đá Đĩa
  244. Chiều đông đầy gió
  245. Chiều đồng nội
  246. Chiều đông xứ Huế
  247. Chiều lạnh
  248. Chiều lệch mắt nâu
  249. Chiều mọc râu trên hoàng hôn cỏ
  250. Chiều mưa Hà Nội anh nhớ em
  251. Chiều nghiêng
  252. Chiều ngó xa xăm
  253. Chiều qua phố cũ
  254. Chiều quê
  255. Chiều rỗng
  256. Chiều thu nghe tiếng chim cu
  257. Chiều thu rất ngọt
  258. Chiều trên khư mộ
  259. Chiều trên non nước cũ
  260. Chiều trung du
  261. Chiều ven sông
  262. Chim sâu tập hót
  263. Cho bé
  264. Cho đời biếc xanh
  265. Cho mùa hạ cuối
  266. Cho mùa xuân rực rỡ
  267. Cho ngày sinh nhật 40
  268. Cho những ngày đông lạnh
  269. Choáng
  270. Chợ mưa
  271. Chợ xuân
  272. Chơi vơi
  273. Chới với 2
  274. Chơi với sóng
  275. Chớm thu
  276. Chợt nghĩ giữa hoàng hôn
  277. Chợt rượu
  278. Chú chim sâu
  279. Chú gà trống nhỏ
  280. Chú nhện nâu
  281. Chú ở Trường Sa
  282. Chú thợ điện
  283. Chu Văn An - khung trời khát vọng
  284. Chú về phép
  285. Chú vịt con
  286. Chùm mây quằn quại
  287. Chúng ta nói về chúng ta
  288. Chuồn kim
  289. Chuồn kim mắc lưới
  290. Chút duyên quê
  291. Chuyển động thời gian
  292. Chuyến xe băng đêm lạnh
  293. Chuyến xe cuối năm
  294. Chuyến xe ký ức
  295. Chứng ngộ
  296. Co
  297. Có ai?
  298. Có cái chi trong cổ họng
  299. Cỏ cháy
  300. Có đám mây ngoài phố đã bước cùng tôi
  301. Có khói bếp có bồ hóng
  302. Cỏ mọc thành giếng cũ
  303. Có một con đường trắng
  304. Có một mẹ thôi
  305. Có một mùa xuân muộn màng ở Huế
  306. Có một ngày như thế
  307. Có những bài thơ
  308. Có những buổi sáng cưỡi mây bay đi
  309. Cò ơi!
  310. Có thể
  311. Có thể nói nhiều về điều không thể nói
  312. Cõi lặng
  313. Cõi tạm
  314. Cõi yêu
  315. Comment cho em
  316. Con ạ!
  317. Con chim đen hót bên dòng sông đỏ
  318. Con chim sâu bé bỏng réo gọi bình minh
  319. Con chó bông
  320. Con chuột máy tính
  321. Con cóc
  322. Con đang nghĩ gì?
  323. Con đang nhoẻn miệng cười
  324. Con đi ra nắng
  325. Con đường duy nhất
  326. Con đường đất đỏ lầy mưa
  327. Con đường lá me
  328. Con đường làng
  329. Con đường máu
  330. Con đường mòn
  331. Con đường mòn bên mé đồi
  332. Con đường mùa đông
  333. Con đường mùa hạ
  334. Con đường về nhoè cơn mưa hạ
  335. Con gà gáy gọi sáng
  336. Con gà hắn gáy
  337. Con hẻm tối
  338. Còn không bụi phấn?
  339. Còn lại mình em
  340. Con muỗi bé tí
  341. Con quay
  342. Con rắn bò dưới chân
  343. Con suối nhỏ
  344. Con thuyền trôi trên đồi
  345. Con tôi khóc vì cái đọt cây khế đã héo
  346. Cõng
  347. Cõng xác
  348. Cô đơn
  349. Cô hồn tháng bảy
  350. Cô tập em viết
  351. Cô tề
  352. Cối đá cũ ở góc vườn
  353. Côn Sơn
  354. Công việc
  355. Cởi áo quần ra lại gặp mình
  356. Cởi và trói trong màu đêm huyền mặc
  357. Cơn cớ gì?
  358. Cơn đau dạ dày của đất trời
  359. Cơn gió lạc dưới vòm trời đen như sông Tô
  360. Cơn gió xoáy
  361. Cơn khát
  362. Cơn lũ đã qua
  363. Cơn mưa khuya đen đủi
  364. Của choa
  365. Của mẹ
  366. Cún con
  367. Cún con đá bóng
  368. Cún hư
  369. Cũng chưa chén hết mùa đông
  370. Cùng ông thăm lúa
  371. Cung trầm
  372. Cũng vừa
  373. Cúng xóm
  374. Cuộc chơi của lửa chưa được sử dụng nhiên liệu máu
  375. Cuộc tình mục ruỗng
  376. Cuối
  377. Cuối hè
  378. Cuối hè nhớ quê
  379. Cuối mùa
  380. Cuối năm & cảm giác tồn vong của lão Q
  381. Cuối năm viếng mộ Nguyễn Du
  382. Cuối thu
  383. Dàn hợp xướng mùa hè
  384. Dáng mẹ
  385. Dạo phố
  386. Dân tộc
  387. Dấu nặng
  388. Dây bí
  389. Dậy hương đêm
  390. Delete
  391. Dế kêu đêm, nhớ Việt
  392. Dìu em qua phố mưa
  393. Dòng sông đục ngầu
  394. Dòng sông kín sương chiều
  395. Dòng sông quê
  396. Dòng sông tóc
  397. Dòng sông Trương Chi
  398. Dòng sông ướt mưa
  399. Dốc lạnh
  400. Dời mộ
  401. Dùng dằng Tam Đảo
  402. Duyên
  403. Duyên muộn
  404. Dư âm
  405. Dư vang
  406. Dưa hấu
  407. Dưới gốc me già
  408. Dưới mái trường mầm non
  409. Dưới rặng tre
  410. Dưới vòm cây ông trồng
  411. Dường như
  412. Đã chết trong lòng một giấc mơ
  413. Đã nghe mùa đông sờ gáy đêm khuya
  414. Đã nhốt trong nhau niềm đau
  415. Đã yêu
  416. Đài phát thanh vang ở các góc phố
  417. Đám tang cuối chiều
  418. Đang về chỗ nớ
  419. Đánh răng
  420. Đắp chăn cho cún bông
  421. Đặt tên nhớ làng
  422. Đất trời còn mưa gió nhiều
  423. Đất và gạch
  424. Đầu năm bạn đến thăm nhà
  425. Đầu năm lên núi
  426. Đầu non cuối bãi
    1
  427. Đây một ngày mới như máu thịt
  428. Đèn báo
  429. Đẹp
  430. Để dành thắt cổ một đêm chơi
  431. Đếm
  432. Đêm biển
  433. Đêm buồn sờ cái gót chân
  434. Đêm cao nguyên nhớ Huế
  435. Đêm cô hồn
  436. Đêm cuối cùng
  437. Đêm gác trọ
  438. Đêm Hội An
  439. Đêm hút gió
  440. Đêm loạn
  441. Đêm lộn ngược
  442. Đêm ly khách
  443. Đêm mùa thu
  444. Đêm mưa
  445. Đêm nay những tiếng chuông đã sống dậy
  446. Đêm ngát hương hạnh nguyên
  447. Đêm nghe mưa dội trong não bộ
  448. Đêm nguyện
  449. Đêm Noel
    1
  450. Đêm nóng
  451. Đêm nở ra hoa ấm
  452. Đêm qua mưa rào
  453. Đêm qua nghĩa địa
  454. Đêm quê mưa dữ
  455. Đêm quê nội
  456. Đêm rùng mình nỗi đau
  457. Đêm tắc kè đọc Tr. Sơn
  458. Đêm trắng
  459. Đêm trung thu
  460. Đêm Vân Ngữ
  461. Đêm xuân quan họ
  462. Đi dưới gầm trời đen
  463. Đi giày
  464. Đi học mầm non
  465. Đi học ngày mưa
  466. Đi học sau tết
  467. Đi ngoài trời mưa rơi không ướt
  468. Điên
  469. Điện thoại cho mẹ
  470. Điệp ngữ tình
  471. Đinh
  472. Đò Ba Bến
  473. Đò Cồn
  474. Đỏ kinh
  475. Đoá hồng khô
  476. Đoàn tàu chân đất
  477. Đón giao thừa
  478. Đón năm mới hai lẻ tư
  479. Đón xuân
  480. Đố ai
  481. Độc ẩm
  482. Độc thoại Thuận An
  483. Đôi bạn
  484. Đôi bàn tay bé
  485. Đối diện Nhật Lệ
  486. Đội lân xóm em
  487. Đôi lúc nghĩ
  488. Đôi mắt em là nấm mộ sầu
  489. Đôi tay choàng sóng biển
  490. Đồi thơm
  491. Đồng dao cây
  492. Đồng điệu
  493. Đồng hồ báo thức
  494. Đồng tiền còn sót lại trong túi
  495. Động viên
  496. Đợi
  497. Đời chi lạ!
  498. Đợi chờ ông Noel
  499. Đợi mong
  500. Đời nghiêng như lá
  501. Đơn giản bởi em là thơ
  502. Đùa Nha Trang
  503. Đùn
  504. Đứng dưới nắng
  505. Đừng đem trái tim ra doạ những giọt máu
  506. Đừng rơi vội hỡi chiếc lá
  507. Đừng tự trách mình
  508. Đường khuya
  509. Đường lên dốc núi
  510. Đường xưa
  511. Em bé ở khoa Ngoại
  512. Em cào xác mình bằng lưỡi cuốc đớn đau
  513. Em chừ như thể mùa đông
  514. Em cứ ra tay em sẽ biết
  515. Em đẹp như dòng nước chảy
  516. Em í a điệu luân vũ
  517. Em lỡ tay cầm chùm chìa khoá
  518. Em nghĩ về Trái Đất
  519. Em non em nước, ta về
  520. Em ơi!
  521. Em tôi đọc báo
  522. Em trả phòng để đi dọc sông hương à
  523. Em vẽ ngôi trường em
  524. Em về Tam Đảo
  525. Em xé nát em rồi
  526. Em yêu cao nguyên
  527. Em yêu Tổ quốc của em
  528. Entry tình yêu
  529. Ếch và cóc
  530. Gã đàn ông say rượu đứng đái bên đường
  531. Gà gáy trong rừng xuân
  532. Ga Huế, tạm biệt Linh Nhân
  533. Gà mẹ
  534. Gà trống gáy trưa
  535. Gánh đám
  536. Gạo tắm
  537. Gặp chi cắc cớ rứa trời?
  538. Gặp cô hàng xóm bồng con so
  539. Gặp đám chết đang trôi qua phố
  540. Gặp em trong cõi...
  541. Gặp hai cái chết đầu năm
  542. Gặp lại Huế em
  543. Gặp ma
  544. Gặp tia nắng trong dạ con bình minh
  545. Gần bốn mươi năm
  546. Gấp
  547. Giả thiết
  548. Giã từ lỗ
  549. Giả vờ
  550. Giàn mướp của ông
  551. Giàn mướp vàng hoa
  552. Giáo dục
  553. Giao mùa
  554. Giấc khuya
  555. Giấc mơ hoá điên bay lên nóc nhà rách
  556. Giấc mơ hoàng hôn
  557. Giấc mơ màu hướng dương
  558. Giấc mơ mùa đông
  559. Giấc mơ tan
  560. Giấc mơ về em điều khiển thân xác tôi
  561. Giấc ngủ trưa hè
  562. Giật một cú
  563. Giấu
  564. Giêng
  565. Giêng non
  566. Gió
  567. Gió 2
  568. Gió đông
  569. Gió mùa đông bắc
  570. Gió mưa đông
  571. Gió Nam
  572. Gió nát
  573. Gió và quạt điện
  574. Gió xao xác khúc điêu linh lên ngàn
  575. Giọng quỷ đêm
  576. Giọt lắng
  577. Giọt máu còn tươi trong từng cơn biển thét
  578. Giọt mưa
  579. Giọt nắng vàng
  580. Giọt nước mắt khuya
  581. Giọt sương đêm
  582. Giọt sương sẽ tan dần trên cành
  583. Giỗ cố
  584. Giờ ra chơi
  585. Giờ tan học
  586. Giữa lòng Đại Nội
  587. Giữa miền sương đục
  588. Góc phố câm có cơn mưa điếc
  589. Gọi điện cho bố
  590. Gọi hè
  591. Gọi mùa (I)
  592. Gọi mùa (II)
  593. Gọi ngày bão giông
  594. Gọi người môi thắm
  595. Gối
  596. Gợi
  597. Guitare buồn
  598. Gửi bác Phương
  599. Gửi chị
  600. Gửi cô bé học trò
  601. Gửi mùa xuân Hà Nội
  602. Gửi Mỵ Châu
  603. Gửi người chưa gặp
  604. Gửi người của hôm nay
  605. Gửi người em gái Sư phạm
  606. Hai ba bốn chín
  607. Hai bông hoa
  608. Hai chị em
  609. Hai đứa buồn cũng thế phải không anh?
  610. Hai người mẹ
  611. Hái trầu cho bà
  612. Hai trong một
  613. Hàng trăm năm trời
  614. Hạnh phúc cho nhau
  615. Hạnh phúc xanh
  616. Hành trình mới rất cũ
  617. Hành trình não
  618. Hành trình tiếng vọng
  619. Hạt cỏ nâu
  620. Hạt nắng dễ thương
  621. Hát với Thiên An
  622. Hãy dưỡng rừng
  623. Hãy đọc từ dưới lên trên nhé!
  624. Hay hát đồng dao
  625. Hất một tiếng cười
  626. Hè về
  627. Hè về quê nội
  628. Hèn
  629. Hẹn
  630. Hẹn mùa sau
  631. Hẹn về Đà Nẵng
  632. Heo đất ngày xuân
  633. Hên xui
  634. Hiền
  635. Hiểu
  636. Hiểu dùm anh
  637. Hình dung
  638. Hoá
  639. Hoa cát
  640. Hoa dại
  641. Hoa dâm bụt
  642. Hoa gạo
  643. Hoa giấy
  644. Hoa hồng và rượu
  645. Hoạ khúc nhớ
  646. Hoa mười giờ
  647. Hoá ra con chữ cũng hay cợt đùa
  648. Hoá vàng ca
  649. Hoa vông
  650. Hoang hoang chiều
  651. Hoàng hôn có tiếng chim kêu lẻ
  652. Học đếm
  653. Học võ
  654. Hỏi
  655. Hỏi bàn chân cũ
  656. Hỏi mẹ
  657. Hỏi người dưới mộ
  658. Hỏi nhà ta đâu?
  659. Hỏi sông
  660. Hỏi tôi
  661. Hồ Tây chiều tháng giêng
  662. Hội An mưa nhớ một người
  663. Hồi chuông Yên Tử
  664. Hối hận
  665. Hội làng
  666. Hồi nhỏ
  667. Hồn của làng
  668. Hôn lần cuối
  669. Hồn xưa
  670. Hổng có chi
  671. Hơi thở
  672. Hơi thở người đàn bà ở lại
  673. Hơn bốn ngàn giọt nước mắt
  674. Huề
  675. Huế ơi! một chiều ngồi lại
  676. Huế yêu
  677. Hũng Huyện
  678. Hụt hơi
  679. Hư huyễn
  680. Hương mùa thu
  681. Hương sắc mùa thu
  682. Hương tràm
  683. Im lặng nghe thế giới động
  684. Im lặng cỏ
  685. Ít nhất có một lần
  686. Kẹo ngọt
  687. Kéo rèm mưa
  688. Kẹp tóc
  689. Kể lể của một buổi chiều Chúa nhựt
  690. Khách hàng của nghề bán quan tài
  691. Khát xưa
  692. Khe Ráy
  693. Khép mở
  694. Khét
  695. Khi anh thở bằng hơi thở của em
  696. Khi anh thức giấc
  697. Khi anh vừa thức giấc
  698. Khi bà xã mang bầu
  699. Khi con chưa chào đời
  700. Khi em nằm mớ
  701. Khi hồn tôi lăng và tượng
  702. Khi nào ra phố
  703. Khi niềm tin đã mất
  704. Khi thành phố biết hôn
  705. Khi thấy anh nhổ nước bọt
  706. Khi trở về bản quán
  707. Khó ngủ
  708. Khoảnh khắc đau
  709. Khóc chi cho mệt
  710. Khóc cho bài thơ chết non
  711. Khóc cho nhau lần cuối
  712. Khói bếp chui ra vách nứa
  713. Không ai thèm nghe lời yêu thương và thù hận
  714. Không một ánh đèn
  715. Không một vệt sao
  716. Không nhời
  717. Không trắc buồn
  718. Khúc hát ban mai
  719. Khúc hát tình xuân
  720. Khúc hoan ca lẫm liệt
  721. Khúc ru tình cũ
  722. Khúc tạ từ
  723. Khúc tình nghèo
  724. Khuôn mặt tôi
  725. Khuya đè lên thân xác tôi
  726. Khuya muộn
  727. Khuya sôi
  728. Khuya thăm mộ bạn
  729. Khuya trắng
  730. Khuya trôi theo bóng
  731. Khuyên bạn mèo ốm
  732. Kim Long
  733. Kim và chỉ
  734. Kỳ đài sừng sững
  735. Ký hoạ phố
  736. Ký sự cho ngày
  737. Ký ức
  738. Ký ức tuổi thơ
  739. Lá chuông rụng xuống
  740. Lá rụng lấp con đường
  741. Là rứa đó
  742. Là thầy cô của chúng em
  743. Lá thư
  744. Lạc
  745. Lạc ngày
  746. Lạc trong khói lửa
  747. Lạm dụng trò chơi ngôn ngữ
  748. Làm sao nhớ hết
  749. Làm sao viết chữ đẹp?
  750. Làm thơ
  751. Lạnh
  752. Lạnh đêm
  753. Lắc
  754. Lắng tiếng chuông
  755. Lần đầu qua cầu khỉ
  756. Lẩn thẩn chiều quê
  757. Lẩn trong mưa Huế
  758. Lấp
  759. Lật thớ đất cày trên cánh đồng máu ứ
  760. Lâu rồi gặp lại
  761. Lấy móng chân khèo móng tay
  762. Leo
  763. Lệnh
  764. Lịch sử hiện lên từ xương trắng
  765. Lòng tôi có thể như là tất niên
  766. Lốc
  767. Lốc em
  768. Lối về
  769. Lồng đèn
  770. Lỡ tay
  771. Lời cho ngàn sau
  772. Lời cỏ (I)
  773. Lời cỏ (II)
  774. Lời của cây nơi hố thẳm
  775. Lời cuối cùng cho một tình yêu
  776. Lời dặn dò nuốt từng km
  777. Lời hạ buồn
  778. Lời một bài thơ sắp chết
  779. Lời mưa
  780. Lời rap cho bài hát “Kẹo ngọt”
  781. Lời ru
  782. Lời ru con
  783. Lời ru của người cha trẻ
  784. Lời ru mùa thu
  785. Lời sau cuối
  786. Lời trái tim khô
  787. Lớp học hè
  788. Lớp học mùa đông
  789. Lũ miền Trung
  790. Lũ ve quần hội trên tán cây kêu từ sáng đến tối
  791. Lúa ơi!
  792. Lúa, gạo và cơm
  793. Lụt nguồn đất bỏ làng đi
  794. Lửa trong nấm mộ
  795. Ma sáng
  796. Mãi là trẻ con
  797. Mai Xá
  798. Mai xa còn nhớ kinh kỳ?
  799. Mai xa rồi
  800. Man mác, mênh mông và đau đáu
  801. Mang dép
  802. Mảnh đất nứt ra từng vết máu
  803. Màu của mùa thu
  804. Máu đang bùng lên ngọn lửa
  805. Máu đêm
  806. Máu đỏ bên trời
  807. Màu khói cũ
  808. Màu mưa đêm
    2
  809. Màu quê
  810. Màu sương trắng
  811. Màu ước mơ
  812. May còn tâm sự cùng em
  813. Mặt đất
  814. Mắt rưng rưng
  815. Mắt sương
  816. Mắt thu
  817. Mặt trời đi lạc
  818. Mặt trời mọc từ những ngón tay đan
  819. Mắt xưa
  820. Mầm động
  821. Mất chìa
  822. Mấy câu thơ lép
  823. Mây hay khóc
  824. Mây mù khuất đỉnh Thương Sơn
  825. Mây trẻ con
  826. Mẹ con ấm chén
  827. Mẹ con gà và cu Tí
  828. Mẹ gà đã bị con người ăn cắp hết trứng
  829. Mẹ ơi con ngủ
  830. Men tình
  831. Mẹo
  832. Mèo hát
  833. Mèo hư
  834. Mèo ngoan
  835. Mèo ôn thi
  836. Mèo sợ chuột
  837. Mê mê man man
  838. Mệt
  839. Mệt quá đi thôi
  840. Mệt rồi đổi chỗ cho nhau
  841. Miệng giếng cũ đã bịt kín
  842. Miếng ngon
  843. Miệt mài sương rụng
  844. Móc ruột đêm
  845. Mỏi gót dã tràng
  846. Mong thời gian chóng qua
  847. Móng vuốt tàn khốc
  848. Mộ khúc
  849. Môi Thăng Long ngồi nhớ mắt sông Hồng
  850. Môi xưa còn giữ đá vàng cho nhau?
  851. Mộng
  852. Mộng ảo
  853. Mồng tám tháng ba
  854. Mộng trắng
  855. Mộng tưởng
  856. Một câu thơ ngắn
  857. Một chiều nắng xế miền Trung
  858. Một chùm hoa rét nở trên tay
  859. Một chùm ngôn ngữ cho chuỗi ngày đã mất
  860. Một dòng
  861. Một đêm
  862. Một đêm cố quận
  863. Một khuya một ta và một rượu
  864. Một lần tôi nói yêu em
  865. Một mình một bóng với non xưa nước cũ
  866. Một mình ngồi nghe mùi nhang rất thơm trong đêm
  867. Một ngày
  868. Một ngày buồn
  869. Một ngày của mẹ
  870. Một ngày cuối tháng bảy hai lẻ chín
  871. Một ngày cuối tháng tư
  872. Một ngày Huế buồn
  873. Một ngày ở biển mình hôn
  874. Một ngày rứa đó
  875. Một thoáng Hạ Long
  876. Một vòng rục rịch
  877. Mờ
  878. Mở cái máy ra nè cho biết mặt!
  879. Mở và khép
  880. Mời bạn
  881. Mời bạn về thăm xứ Huế
  882. Mù 2
  883. Mũ bảo hiểm và con bướm vàng
  884. Mù mê
  885. Mùa đông nhạt nhoà
  886. Mùa đông qua rồi
  887. Mùa gặt
  888. Mùa hạ gay nồng
  889. Mùa hè ở Cù Lao Chàm
  890. Mùa hè về rồi
  891. Mùa hoa gạo
  892. Mùa nhãn chín
  893. Mùa nước nổi
  894. Mùa ổi
  895. Mùa sim chín
  896. Mùa thị vàng
  897. Mùa thu bỏng rát
  898. Mùa thu xanh
  899. Mùa tóc úa
  900. Mùa vàng
  901. Mùa vui khai trường
  902. Mùa xuân đã về
  903. Mùa xuân ơi hãy về
  904. Mục tiêu
  905. Mùi âm thanh đã rách
  906. Mùi bể dâu
  907. Mùi hương vẫn thức
  908. Mùng hai tết ngủ với ma
  909. Muối
  910. Muộn
  911. Mưa bão Hà thành nhớ ngày rét Huế
  912. Mưa bão Huế
  913. Mưa chiều Đội Cung
  914. Mưa dồn xuống làng
  915. Mưa dộng trên nguồn
  916. Mưa đêm ở Vĩnh Điềm Trung
  917. Mưa giêng
  918. Mưa giông
  919. Mưa Hà Khê
  920. Mưa mồ hôi
  921. Mưa mù như nhang khói
  922. Mưa nghiêng cánh phượng
  923. Mưa Quan Âm
  924. Mưa tạt vào giấc ngủ
    1
  925. Mưa trên Đài Bắc
  926. Mưa xuân
  927. Mừng sinh nhật em
  928. Mười bốn tháng tám một chín bảy ba
  929. Mười lăm năm mất ngủ
  930. Mười sáu
    1
  931. Mưu sinh
  932. Nằm
  933. Nằm chộ
  934. Nằm nghe khuya rớt
  935. Nằm nghe máu rụng
  936. Nằm nghe máu thở
  937. Nằm nghe mưa bão
  938. Nắng
  939. Nắng chiều qua ngõ
  940. Nắng cùng cực
  941. Nắng đã chen trên lá rừng
  942. Nắng đã tạo ra bóng mát
  943. Nắng đổ rát lưng tháp
  944. Nắng hạn không giới hạn
  945. Nắng Huế và em
  946. Nắng quê nghèo
  947. Nắng sôi trên mặt đường
  948. Nắng trúc
  949. Nấc
  950. Nén hương lòng cho Công
  951. Nén nhang cháy
  952. Nếu... thì...
  953. Ngã ba sông
  954. Ngát tận
  955. Ngày buồn
  956. Ngày cũ giống ngày mới
  957. Ngày cuối năm ở nhà một mình
  958. Ngày đầu tiên tháng sáu
  959. Ngày hạnh phúc
  960. Ngày hè nhắm mắt
  961. Ngày mai xa
  962. Ngày mùa
  963. Ngày ngắn đêm dài
  964. Ngày rất gần và loài người còn xa lắm
  965. Ngày tận cùng em trong giấc tự do
  966. Ngày tận với em trong giấc tự do
  967. Ngày và đêm
  968. Ngày về
  969. Ngày về nhớ Bùi Giáng
  970. Ngày vui của bé
  971. Ngày xuân nâng cốc cùng em
  972. Ngày xưa con người sợ cọp dữ ăn thịt
  973. Ngày xưa hư thực
  974. Ngày xưa nói gì?
  975. Ngắn và dài
  976. Ngậm
  977. Ngậm lý thuyết cũ
  978. Ngậm mưa
  979. Nghe
  980. Nghe bắt mệt
  981. Nghé con
  982. Nghe điện thoại
  983. Nghe không khí lạnh
  984. Nghe lạnh vào đông
  985. Nghe mùi khoai nướng
  986. Nghe Sài Gòn trong ta chiều ấy
  987. Nghe tiếng còi tàu
  988. Nghẹn
  989. Nghề bán quan tài
  990. Nghĩ 2
  991. Nghĩa trang
  992. Nghịch
  993. Nghịch ơi là nghịch!
  994. Nghiệm
  995. Nghiêng nghiêng chiếc lá
  996. Nghiệt
  997. Ngó
  998. Ngỏ
  999. Ngó lại
  1000. Ngó mà bưa
  1001. Ngó ngang mùa cũ
  1002. Ngó thôi cũng gọi rằng yêu
  1003. Ngó trăng méo xẹo
  1004. Ngõ trưa
  1005. Ngó xa xăm lại thấy mình xa xăm
  1006. Ngó xuống nhân gian
  1007. Ngoại của em
  1008. Ngoảnh lại
  1009. Ngọc trong đá
  1010. Ngón đàn si
  1011. Ngón tay cái
  1012. Ngọn trăng lên
  1013. Ngọt ngào
  1014. Ngọt ngào lời ru
  1015. Ngồ ngộ
  1016. Ngồi bệt trên lá thông khô
  1017. Ngồi buồn ngắt cái lông mũi
  1018. Ngồi chơi với cỏ
  1019. Ngôi mộ cũ
  1020. Ngôi mộ lặng thinh
  1021. Ngôi mộ nước
  1022. Ngồi với sông
  1023. Ngờ
  1024. Ngợp cầu chợ dinh nghe nằng nặng
  1025. Ngợp tình
  1026. Ngủ dậy cho gà ăn
  1027. Ngút ngàn đêm
  1028. Nguyện
  1029. Nguyễn Du
  1030. Nguyên tiêu
  1031. Ngực trần
  1032. Người đàn bà học vẽ
  1033. Người lính ấy
  1034. Người mẹ Thượng Đức
  1035. Người ơi đừng buồn chi thêm đau
  1036. Người phu oằn vai
  1037. Người ta dựng mái nhà mới hoành tráng cho tấm bia mòn hết chữ
  1038. Người ta thích trời nắng
  1039. Người theo chồng chiều mưa
  1040. Nhà thơ là con kiến nhỏ
  1041. Nhánh sầu bên sông Bạch Yến
  1042. Nhạt
  1043. Nhảy dây
  1044. Nhắm & mở
  1045. Nhặt máu mùa xuân
  1046. Nhẩm
  1047. Nhẩm thử
  1048. Nhân dạy thơ thiền Lý Trần
  1049. Nhận diện
  1050. Nhấn phím buồn
  1051. Nhập
  1052. Nhện ạ! Mi thật giỏi!
  1053. Nhện hỡi!
  1054. Nhìn và quay mặt
  1055. Nhịp thu
  1056. Nhịp võng đưa
  1057. Nhoà
  1058. Nhói
  1059. Nhớ cái chết của thằng bạn đào vàng năm cũ
  1060. Nhớ chi nhớ lạ!
  1061. Nhớ con
  1062. Nhớ em
  1063. Nhớ màu áo cũ
  1064. Nhớ một chiều Hà Nội
  1065. Nhớ mùi nước đái
  1066. Nhớ Phạm Phú Hải
  1067. Nhớ Quảng Nam
  1068. Nhớ quê
  1069. Nhớ ruộng
  1070. Nhủ
  1071. Nhú
  1072. Như cơn mưa đêm nay
  1073. Như một phiêu bồng
  1074. Những bàn tay
  1075. Những buổi chiều thế đấy
  1076. Những bức tranh trong lớp em
  1077. Những bức tranh uất
  1078. Những cái khuôn
  1079. Những cái xác
  1080. Những chiếc bánh bị giết chết
  1081. Những chiếc móc trên dây phơi đồ
  1082. Những chú cún ở đảo Núi Le
  1083. Những chú lợn con
  1084. Những chú voi phun nước
  1085. Những con chim mất trí nhớ
  1086. Những con đường lạ hoắc
  1087. Những con đường mộ địa
  1088. Những con kiến già khụ
  1089. Những con số định mệnh
  1090. Những con sông cướp máu phố phường làng xóm
  1091. Những cồn cào gió
  1092. Những dấu phẩy của âu thị phục an
  1093. Những dòng chữ tượng hình trên bia tiến sĩ
  1094. Những đám mây xám
  1095. Những đốt xương của mùa xuân
  1096. Những giọt máu trong buổi chiều mù
  1097. Những giọt nắng
  1098. Những giọt nước mắt mẹ tôi
  1099. Những giọt xuân
  1100. Những hột máu khô vận hành trên bờ huệ niệm
  1101. Những khúc sông buồn trong cõi chết
  1102. Những lẵng hoa rực rỡ
  1103. Những linh hồn trôi
  1104. Những măng tre bụ bẩm
  1105. Những mùa gặt đã qua
  1106. Những nẻo đường gãy
  1107. Những ngày tháng tư
  1108. Những ngọn lửa cọ mình
  1109. Những nỗi buồn
  1110. Những nụ hôn đêm qua
  1111. Những oan hồn hoá đá
  1112. Những que củi
  1113. Những sợi tóc
  1114. Những tán lá trên đầu
  1115. Những tàu lá chuối
  1116. Những tiếng kêu mọc sừng
  1117. Những toà tháp nát dần theo tuế nguyệt
  1118. Những vết thương lòng
  1119. Những viên gạch móc từ ngôi nhà vừa đập xong
  1120. Những...
  1121. Niệm
  1122. Niềm tin bị cướp
  1123. Nói chung là
  1124. Nói chuyện với muỗi
  1125. Nói chuyện với người bạn già xa nửa vòng trái đất
  1126. Nói gì? Im lặng thì hơn
  1127. Nói phét
  1128. Nói rất nhỏ nhẹ với người con gái
  1129. Nón lá
  1130. Nóng dữ hè!
  1131. Nỗi ám
  1132. Nỗi buồn
  1133. Nỗi buồn của cún
  1134. Nỗi buồn cứ kéo dài ra
  1135. Nỗi buồn là dòng máu chảy xiết
  1136. Nỗi khuya
  1137. Nỗi lòng cô phụ
  1138. Nỗi riêng
  1139. Nội và ngoại
  1140. Nồng ấm môi xuân
  1141. Nơi ấy mặt trời ló lên
  1142. Nơi hội tụ tình xuân
  1143. Nơi tuổi thơ em
  1144. Nụ cười lạ
  1145. Nụ hôn cần thiết
  1146. Nụ hôn đêm Giáng sinh
  1147. Nụ tình
  1148. Nuốt thơ
  1149. Nửa đêm
  1150. Nửa đêm đau răng không ngủ được
  1151. Nửa đêm mưa nghe bàn chân lạnh ngắt
  1152. Nửa đêm mưa nghe cái chân lạnh ngắt
  1153. Nửa đêm nói chuyện với chú ve bay vào phòng sách
  1154. Nửa đêm, dừng chân bên bãi tha ma, ngó trăng
  1155. Nước chè xanh
  1156. Nước mắt đêm vắng
  1157. Ô cửa màu xanh
  1158. Ổ khoá thời gian
  1159. Ô này em áo trắng
  1160. Ôi đời sao nhạt thế?
  1161. Ông bác sĩ
  1162. Ông giao thừa
  1163. Ông nội
  1164. Ông ốm
  1165. Ông rác
  1166. Ông trăng đêm rằm
  1167. Ông trăng ơi!
  1168. Ông trời cắc cớ
  1169. Ở Côn Sơn đọc Nguyễn Trãi nhớ bạn
  1170. Ở đời
  1171. Ở phía chuồng bình minh
  1172. Ở Quy Nhơn viếng Hàn
  1173. Ở vườn trẻ
  1174. Phai
  1175. Phát hiện của bé
  1176. Phất
  1177. Phép cộng mùa xuân
  1178. Phiến lá nõn
  1179. Phim ma
  1180. Phố núi ngày về
  1181. Phố quen
  1182. Phú Bình chiều tan học
  1183. Phục an
  1184. Qua Ba Khe
  1185. Qua cầu Ái Nghĩa
  1186. Quà cho em bé
  1187. Qua dốc mẹ bồng con
  1188. Qua lối cỏ tranh
  1189. Quà mùa đông
  1190. Qua nương sắn cũ
  1191. Quà sinh nhật
  1192. Quả trăng tròn
  1193. Quạt bà, quạt bố
  1194. Quay quắt ngả tư
  1195. Quét lá khô
  1196. Quê cũ
  1197. Quên
  1198. Quy Nhơn
  1199. Ray rứt Tuy Hoà
  1200. Rất dại
  1201. Rất là khó chịu
  1202. Rất tự nhiên
  1203. Rét nàng Bân
  1204. Rong chơi trong bóng khuya
  1205. Ròng rã nơi đó...
  1206. Rồi cơn mưa sẽ tạnh
  1207. Rồi ngày tháng trôi đi
  1208. Rốt cục cũng là máu thôi
  1209. Rơi
  1210. Rơm thành tro
  1211. Rớt
  1212. Ru con
  1213. Ru em
  1214. Rủ nhau đi học
  1215. Rụng xuống môi sầu nước mắt cay
  1216. Rứa hả?
  1217. Rứa là
  1218. Rứa mà đêm qua trời mưa ở Huế
  1219. Rứa mới biết
  1220. Rừng cháy
  1221. Rừng ơi ta khóc cho rừng
  1222. Rưng rức họng đêm
  1223. Rừng sao vui
  1224. Rượu gạo và khói thuốc
  1225. Rượu khuya Vĩnh Chấp
  1226. Rượu ơi!
  1227. Rượu trăng
  1228. Sa mạc trắng
  1229. Sài Gòn 20h30
  1230. Sài Gòn mình em ở lại
  1231. Saigon 20h30
  1232. Saigon ơi! hẹn ngày trở lại
  1233. Sáng & tối
  1234. Sáng khai trường
  1235. Sáng mùa xuân
  1236. Sáng nay con ăn gì?
  1237. Sáng nay Hà Nội lại mưa
  1238. Sang thu
  1239. Sáng và tối
  1240. Sáng, đi bộ, nghe quạ kêu
  1241. Sao em không nhấc máy?
  1242. Sao tôi là con người như thế?
  1243. Sapa sương khói
  1244. Sau lũ
  1245. Sầm Sơn
  1246. Sân trường của cháu
  1247. Sân trường vào hạ
  1248. Sâu răng
  1249. Sẽ không bao giờ thấy những giọt máu trong đêm tối mịt
  1250. Sẽ quên một cuộc tình
  1251. Sến một phát cho lòng thêm thơm ngát
  1252. Sinh khí
  1253. So sánh Huế
  1254. Sỏi
  1255. Soi gương
  1256. Sóng lạnh
  1257. Sóng ngoan
  1258. Số nhiều bất chợt
  1259. Sông Hương đẹp và thơ
  1260. Sông mưa
  1261. Sông trăng
  1262. Sở hữu
  1263. Sợi duyên
  1264. Sớm xuân
  1265. Sơn ca và vẹt
  1266. Sủa
  1267. Sủa 2
  1268. Sủa đêm
  1269. Sự cảnh giác cần thiết đối với lòng thương hại
  1270. Sự cấm kỵ
  1271. Sự cô đơn là âm thanh rất xa
  1272. Sự đấu tranh
  1273. Sự hấp hối
  1274. Sự im lặng của mùa thu
  1275. Sự im lặng của thời gian
  1276. Sự may mắn còn sót lại
  1277. Sự thật của tháng ba
  1278. Sự trần truồng khép kín
  1279. Sự trở về
  1280. Sự tự do quẳng con chim tôi vào lửa
  1281. Sưởi
  1282. Sương khói Buôn Ma
  1283. Sương khuya
  1284. Ta buồn chi lạ huế ơi!
  1285. Ta dắt ta đi
  1286. Ta như giọt lệ giữa dòng phù sinh
  1287. Ta thất vọng
  1288. Ta thở đại bên góc trời đã xước
  1289. Tai thỏ
  1290. Tạm
  1291. Tạm biệt Hà Nội
  1292. Tạm biệt mùa hè
  1293. Tán
  1294. Tan
  1295. Tàn cây trụi lá
  1296. Tan vào bờ môi câm
  1297. Tàu chợ
  1298. Tau hỏi mi
  1299. Tàu qua đèo Hải Vân
  1300. Tay bé
  1301. Tay chân co rút
  1302. Tắm cho Đốm
  1303. Tắm thôi nè!
  1304. Tặng bạn
  1305. Tắt đường
  1306. Tắt tiếng
  1307. Tấm ảnh cũ
  1308. Tấm gương soi mặt mình
  1309. Tâm sự mười năm
  1310. Tận cùng nỗi nhớ
  1311. Tất nhiên trong đêm tối những bóng ma đã giấu tiếng thở
  1312. Tây Ninh dạ hành
  1313. Tết đấy chứ!
  1314. Tết này cháu lại về quê
  1315. Tết quê
  1316. Thả diều
  1317. Tha ma giữa ngọ
  1318. Thạch Bàn khê
  1319. Thái hư lảo đảo
  1320. Tháng chạp
  1321. Tháng chín
  1322. Tháng giêng hái lộc
  1323. Tháng giêng trung du
  1324. Tháng sáu
  1325. Tháng tư nước đã chết và bầu trời không tiếng hót
  1326. Tháng tư về Quảng Trị
  1327. Thánh Gióng
  1328. Thành phố chen chúc
  1329. Thay bà quét rác
  1330. Thay mẹ nấu cơm
  1331. Thăm cô giáo
  1332. Thăm làng
  1333. Thằng điên
  1334. Thằng Lật Đật
  1335. Thắp lên một nén nhang thơm
  1336. Thắp nhang tiễn bạn
  1337. Thân cây chuối bị chặt một nửa đã khô những bẹ
  1338. Thần kinh xao xác ngô đồng
  1339. Thật chán! Một loài khỉ đột bước vào giấc chiêm bao của tôi
  1340. Thấy
  1341. Thấy lạnh trong hồn
  1342. Theo anh ra ngoài thành Huế
  1343. Theo em về hội làng Sình
  1344. Thêm một ngày kết tủa
  1345. Thêm tuổi mới
  1346. Thí dụ cho riêng ta
  1347. Thí điểm hay trò chơi
  1348. Thì hai đứa động viên nhau
  1349. Thì thôi gặp gỡ...
  1350. Thoáng chợ quê
  1351. Thói
  1352. Thói quen
  1353. Thôi đành
  1354. Thở cho đã
  1355. Thơ tặng ta ngày cuối đông
  1356. Thơ viết trong ngày sinh nhật học trò
  1357. Thời gian
  1358. Thời gian
  1359. Thời gian nhắm mắt
  1360. Thời gian rớt
  1361. Thời gian trong chảo dầu
  1362. Thơr trong mắt của anh đấy
  1363. Thu nhớ bạn
  1364. Thuyền lá và những chú cá con
  1365. Thưa em!
  1366. Thưa rằng cơm bụi
  1367. Thức dậy sau cơn bão
  1368. Thương ca ngày mùa
  1369. Thương hoài thương huỷ
  1370. Thương lắm vòm me xanh
  1371. Thương nhau cho miếng quýt chua
  1372. Ti vi
  1373. Tịch lặng
  1374. Tiếc
  1375. Tiễn
  1376. Tiễn bạn lên ga Huế
    1
  1377. Tiễn sông
  1378. Tiếng bước chân lê không hở mặt đất
  1379. Tiếng chim
  1380. Tiếng côn trùng
  1381. Tiếng cười nuôi ai?
  1382. Tiếng đêm
  1383. Tiếng đồng hồ rụng
  1384. Tiếng em
  1385. Tiếng ho ngày bão
  1386. Tiếng ho rừng
  1387. Tiếng khóc chào đời
  1388. Tiếng khóc trên đồng
  1389. Tiếng một loài côn trùng
  1390. Tiếng mưa càm ràm bên đáy cửa sổ
  1391. Tiếng mưa đêm giã nát mái tranh
  1392. Tiếng nói của những ngón tay cứng khớp
  1393. Tiếng sấm sét
  1394. Tiếng thở dài
  1395. Tiếng trống
  1396. Tiếng trưa
  1397. Tiếng ve trên cây gòn bên sông Hương
  1398. Tiết kiệm
  1399. Tìm
  1400. Tìm một vạt đất làm một ngôi mộ gió
  1401. Tìm trong màu trắng đục
  1402. Tin hè
  1403. Tín hiệu
  1404. Tín hiệu mùa xuân
  1405. Tín hiệu trên nhành cây trụi lá
  1406. Tin nhắn còn sót trên bàn thờ
  1407. Tin nhắn ngày tình yêu
  1408. Tin nhắn tình yêu
  1409. Tĩnh & động
  1410. Tình bạn
  1411. Tình ca nỗi nhớ
  1412. Tình ca trên dây phơi căng gió
  1413. Tình khóc trong mưa
  1414. Tình khúc Valentine
  1415. Tình muộn màng như trái táo xanh
  1416. Tình nghèo
  1417. Tình quê
  1418. Tình thị
  1419. Tình xa
  1420. Tình xuân
  1421. Tình yêu
  1422. Tình yêu tình cờ
  1423. Toạt
  1424. Tóc đùa nên tóc rối
  1425. Tổ ấm
  1426. Tôi ăn cái lạnh một ngày cuối đông
  1427. Tôi bóp trái tim mình
  1428. Tôi đã bóp trái tim mình
  1429. Tôi đã đến một lần và ra đi mãi mãi
  1430. Tôi đã nghe nắng chiều lội qua sông
  1431. Tôi đã thấy sáng nay đoá hoa hồng rụng
  1432. Tôi đi một vòng quanh tôi
  1433. Tôi mở cửa chiếc tủ lạnh cũ
  1434. Tôi mơ về cái chết của tôi
  1435. Tôi nằm cạnh cơn bão
  1436. Tôi nằm xuống một đêm trong ngôi làng cổ
  1437. Tôi nghe phía đầu nguồn
  1438. Tôi nghe tiếng kêu u tịch của loài người
  1439. Tôi nghĩ không phải là hiện tại mà cũng có thể
  1440. Tôi ngồi
  1441. Tôi ngồi một góc phương Đông
  1442. Tôi ngồi xỉa cái phận tôi
  1443. Tôi nhặt mình trong góc sân nhà thờ
  1444. Tôi nói về cái chết
  1445. Tôi ở tại nơi không phải là nơi tôi ở
  1446. Tôi trôi về Quảng Nam
  1447. Tôi về giữa phố đêm nay
  1448. Tôi yêu sự lặng câm
  1449. Trà khuya
  1450. Trách mây
  1451. Trái cởi trần
  1452. Trái đất xoay
  1453. Trái tim mùa cũ
  1454. Tràn qua lòng bão xé
  1455. Trang báo quá tải
  1456. Trạng Lường
  1457. Trăng bạc
  1458. Trăng con gái
  1459. Trăng đồng quê
  1460. Trăng khuyết
  1461. Trăng ký ức
  1462. Trăng là gì hở mẹ?
  1463. Trăng sống lại
  1464. Trăng Thanh Tân
  1465. Trăng trối
  1466. Trăng và đèn đường
  1467. Trầm luỵ trong mô thức khuynh đồi bản ngã
  1468. Trần gian chật quá!
  1469. Trâu già
  1470. Trầu và hồ tiêu
  1471. Trễ tàu
  1472. Trên cánh đồng chiều
  1473. Trên cao nguyên mùa đông nghe đá thở
  1474. Trên cầu sương khói
  1475. Trên con đường cũ
  1476. Trên đồi sim chết
  1477. Trên đồi xuân mộng
  1478. Trên hành trình làm người
  1479. Trên khuôn mặt không còn ánh sáng
  1480. Trên triền đê
  1481. Trên vũng bùn non
  1482. Trinh trắng
  1483. Trò chơi
  1484. Trò chơi lạc đà
  1485. Trọ đêm Hà Nội
  1486. Trò lười
  1487. Trong bóng tối
  1488. Trong bụng mẹ có nôi không?
  1489. Trong cõi phù du
  1490. Trong cơn đau này
  1491. Trong cơn mê loài thú hoang
  1492. Trong cơn mưa vội
  1493. Trong giấc mơ buổi sáng
  1494. Trong giấc mưa khuya
  1495. Trong góc hồn tôi
  1496. Trong kẽ tường mục
  1497. Trong màu khói lạnh
  1498. Trong màu máu đỏ
  1499. Trong màu nhang khói
  1500. Trong một mâm cơm
  1501. Trong ngôi nhà hoang gặp lò rượu cũ
  1502. Trong quán “Bạn và tôi”
  1503. Trong ruột mình có cơn mưa
  1504. Trong thân xác này là những que nhang
  1505. Trong thùng rác
  1506. Trồi
  1507. Trồng cây mùa xuân
  1508. Trở lại sự bình yên
  1509. Trở qua trở lại
  1510. Trời chưa chịu sáng
  1511. Trung du
  1512. Trung thu tròn và vàng
  1513. Trưa mùng tám Tết nơi đó mùa đang rụng trứng [gà]
  1514. Trưa qua ngõ cụt
  1515. Trưa sáu ba một một lòng vòng Đà Nẵng
  1516. Trưa trên nương
  1517. Trước biển
  1518. Trước biển Vũng Tàu
  1519. Trước di sản
  1520. Trước khi về Đà Nẵng
  1521. Trước mộ
  1522. Trước sau là bụi
  1523. Trường mầm non của cháu
  1524. Trượt trên nỗi nhớ
  1525. Tuần trăng mật
  1526. Tuổi à! tuổi ơi!
  1527. Tuổi khỉ
  1528. Tuổi thơ
  1529. Tuy Hoà
  1530. Từ bếp lửa nhìn ra
  1531. Tự do kiểm duyệt
  1532. Tự hỏi
  1533. Tự nhiên
  1534. Tự nhiên vợ gọi
  1535. Tự nhủ
  1536. Tự nói với mình
  1537. Từ trong bóng tối
  1538. Tự vấn
  1539. Từng cơn đau thắt ruột
  1540. Từng giọt mồ hôi
  1541. Tượng câm lặng
  1542. Tượng đêm giao thừa
  1543. Tưởng niệm
  1544. Tượng Sơn
  1545. Tương tư
  1546. Tưởng tượng
  1547. Uhm!
  1548. Ui cha! tội hè!
  1549. Uống Làng Chuồn ở Hắc Mộc Nhai
  1550. Uống rượu với Hiền, Dân
  1551. Uống với cu Hiếu!
  1552. Úp mặt vào tường
  1553. Ừ thì em cứ đi
  1554. Ừ thôi mùa thu
  1555. Ừ ừ! Té ra là vậy!
    1
  1556. Ươm hạt
  1557. Vạch một vết máu cho mùa xuân
  1558. Vai diễn
  1559. Vào Sài Gòn đi, mình again
  1560. Vắng em
  1561. Vầng trăng lạnh
  1562. Vầng trăng Quảng Ngạn
  1563. Vầng trăng viễn phố
  1564. Vẽ trên võ não
  1565. Về chốn xưa
  1566. Về đâu mong manh
  1567. Về đi
  1568. Về Huế đi anh
  1569. Về Huyền Không Sơn Thượng
  1570. Về những nụ hôn
  1571. Về quê
  1572. Về xưa
  1573. Vết đau dai dẳng
  1574. Vết sẹo
  1575. Vết sẹo câm
  1576. Vết sẹo của nỗi buồn chái bếp
  1577. Vết thương dịu dàng
  1578. Vệt trăng kinh thành
  1579. Vì sao lưng bà còng?
  1580. Viên phấn gãy
  1581. Viết cho con ngày xa
  1582. Viết cho người đàn bà tê liệt!
  1583. Viết trong mù sương Huế
  1584. Viết trong ngày lễ tình yêu
    1
  1585. Viết trước ngày chị làm dâu
  1586. Vòi vĩnh nguyên tiêu
  1587. Vọng khúc xuân
  1588. Vọng khúc xuân tình
  1589. Vọng khuya
  1590. Vọng làng
  1591. Vọng phương Nam hành
  1592. Vòng tay muộn
  1593. Vòng vèo ngõ quê
  1594. Vô thường màu nắng
  1595. Vô tình
  1596. Vỗ về hột bụi
  1597. Vội mà không vội
  1598. Vợ
  1599. Với cao nguyên
  1600. Với cây guitare bạn hãy hát lên như đứa trẻ lần đầu tiên xa nhà
  1601. Với Đông Hà
  1602. Với em ngày xa
  1603. Vũ khí
  1604. Vui này!
  1605. Vượn hú bầm phiến lá
  1606. Vượt thoát
  1607. Xác chết một người đàn ông
  1608. Xạo
  1609. Xao xác
  1610. Xem quảng cáo
  1611. Xem thư pháp
  1612. Xế
  1613. Xịu lơ
  1614. Xoá đi một tin nhắn và quên
  1615. Xuân bất chợt
  1616. Xuân đuối đơ
  1617. Xuân ngây ngô
  1618. Xuân về khua sóng Vu Gia
  1619. Xuân về rồi đó
  1620. Xuân về trên núi
  1621. Xuỵt
  1622. Ý thu
  1623. Yêu anh em biết làm thơ
  1624. Yêu là nhớ nhớ quên quên

Thơ dịch tác giả khác

  1. A Kiều oán Lưu Vũ Tích
    14
  2. An Định thành lâu Lý Thương Ẩn
    11
  3. Ẩm mã Trường Thành quật hành Thái Ung
    3
  4. Ẩm tửu khán mẫu đơn Lưu Vũ Tích
    29
  5. Bả tửu vấn nguyệt Lý Bạch
    13
  6. Bạc Tần Hoài Đỗ Mục
    22
  7. Bạch tuyết ca tống Vũ phán quan quy kinh Sầm Tham
    8
  8. Bãi Chung Lăng mạc sứ thập tam niên, lai Bạc Bồn phố cảm cựu vi thi Đỗ Mục
    8
  9. Bào trung thi Khai Nguyên cung nhân
    8
  10. Bi ca Khuyết danh Trung Quốc
    6
  11. Biên từ Trương Kính Trung
    12
  12. Bồ tát man Án Kỷ Đạo
    2
  13. Cảm ngộ kỳ 02 Trần Tử Ngang
    9
  14. Cổ biệt ly Mạnh Giao
    18
  15. Cổ oán biệt Mạnh Giao
    9
  16. Cung trung đề Lý Ngang
    6
  17. Cửu nguyệt cửu nhật ức Sơn Đông huynh đệ Vương Duy
    32
  18. Dạ tuyết Bạch Cư Dị
    4
  19. Dịch thuỷ tống biệt Lạc Tân Vương
    21
  20. Du tử ngâm Mạnh Giao
    23
  21. Đại phong ca Lưu Bang
    5
  22. Đào giả Mai Nghiêu Thần
    5
  23. Đào hoa khê Trương Húc
    22
  24. Đảo luyện tử - Chử thanh tề Hạ Chú
    3
  25. Đảo luyện tử - Dạ đảo y Hạ Chú
    3
  26. Đăng Lạc Du nguyên Đỗ Mục
    10
  27. Đăng Lạc Du nguyên Lý Thương Ẩn
    19
  28. Đăng Quán Tước lâu Vương Chi Hoán
    19
  29. Đăng U Châu đài ca Trần Tử Ngang
    30
  30. Đằng Vương các Vương Bột
    23
  31. Đề Đào Hoa phu nhân miếu Đỗ Mục
    10
  32. Đề hoa diệp thi Đức Tông cung nhân
    6
  33. Đề hồng diệp Tuyên Tông cung nhân Hàn thị
    10
  34. Đề Ô giang đình Đỗ Mục
    10
  35. Đề quy mộng Lý Hạ
    2
  36. Đề Viên thị biệt nghiệp Hạ Tri Chương
    14
  37. Độ Tang Càn Giả Đảo
    22
  38. Đồ trung lập xuân ký Dương Tuân Bá Đậu Thường
    7
  39. Độc Lý Bạch thi tập Trịnh Cốc
    12
  40. Đông Dương tửu gia tặng biệt kỳ 2 Vi Trang
    11
  41. Đồng đề Tiên Du quán Hàn Hoằng
    5
  42. Giang thượng ngâm Nguyên bát tuyệt cú Bạch Cư Dị
    3
  43. Há Chung Nam sơn, quá Hộc Tư sơn nhân túc, trí tửu Lý Bạch
    14
  44. Hành quân cửu nhật tư Trường An cố viên Sầm Tham
    9
  45. Hoài thượng biệt hữu nhân Trịnh Cốc
    26
  46. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lý Bạch
    48
  47. Hoàng Phủ Nhạc Vân Khê tạp đề kỳ 1 - Điểu minh giản Vương Duy
    25
  48. Hồi hương ngẫu thư kỳ 1 Hạ Tri Chương
    37
  49. Hồi hương ngẫu thư kỳ 2 Hạ Tri Chương
    34
  50. Hồng đậu từ Tào Tuyết Cần
    5
  51. Hữu nhân dạ phỏng Bạch Cư Dị
    7
  52. Hữu sở tư Lư Đồng
    12
  53. Khách cư thuật hoài Hoàng Nguyễn Thự
    3
  54. Khê cư Bùi Độ
    7
  55. Khuê oán Vương Xương Linh
    33
  56. Kim lũ y Đỗ Thu Nương
    25
  57. Ký phu Trần Ngọc Lan
    11
  58. Lập xuân tức sự Đặng Đình Tướng
    2
  59. Lũng Tây hành kỳ 2 Trần Đào
    17
  60. Lữ hoài Văn Thiên Tường
    3
  61. Lương Châu từ kỳ 1 Vương Hàn
    43
  62. Mai hoa Huyền Quang thiền sư
    7
  63. Nam hành biệt đệ Vi Thừa Khánh
    23
  64. Ngạc quán thư hoài Trần Ích Tắc
    3
  65. Nguyệt hạ độc chước kỳ 1 Lý Bạch
    24
  66. Nông phủ Trương Bích
    6
  67. Ô dạ đề Lý Bạch
    15
  68. Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 1 Vương Xương Linh
    27
  69. Phùng lão nhân Ẩn Loan
    4
  70. Phùng nhập kinh sứ Sầm Tham
    19
  71. Quá cố nhân trang Mạnh Hạo Nhiên
    13
  72. Quá Linh Đinh dương Văn Thiên Tường
    15
  73. Quan thương thử Tào Nghiệp
    7
  74. Sa hành đoản ca Cao Bá Quát
    5
  75. Sơn hạ túc Bạch Cư Dị
    11
  76. Sơn hành Đỗ Mục
    16
  77. Tái kinh Hồ Thành huyện Đỗ Tuân Hạc
    7
  78. Tam niên biệt Bạch Cư Dị
    8
  79. Tảo thu độc dạ Bạch Cư Dị
    13
  80. Tạp thi kỳ 1 Vương Duy
    40
  81. Tặng biệt kỳ 1 Đỗ Mục
    15
  82. Tặng Uông Luân Lý Bạch
    16
  83. Tẩu Mã xuyên hành, phụng tống Phong đại phu tây chinh Sầm Tham
    10
  84. Tây Hà dịch Nguyễn Du
    6
  85. Thạch Hào lại Đỗ Phủ
    14
  86. Thanh bình điệu kỳ 1 Lý Bạch
    32
  87. Thanh minh Đỗ Mục
    22
  88. Thiên tịnh sa - Thu tứ Mã Trí Viễn
    2
  89. Thu tứ Trương Tịch
    11
  90. Thục đạo nan Lý Bạch
    4
  91. Thục trung cửu nhật Vương Bột
    15
  92. Thương tiến tửu Lý Bạch
    27
  93. Tòng quân hành Dương Quýnh
    15
  94. Tòng quân hành Lệnh Hồ Sở
    11
  95. Tòng quân hành kỳ 1 Vương Xương Linh
    13
  96. Tống biệt (Sơn trung tương tống bãi) Vương Duy
    32
  97. Tống Lương Lục tự Động Đình sơn Trương Duyệt
    13
  98. Tống Vũ Văn Lục Thường Kiến
    12
  99. Trì thượng Bạch Cư Dị
    21
  100. Trúc Lý quán Vương Duy
    38
  101. Trùng quá Hàng Châu đăng lâu vọng nguyệt trướng nhiên hữu hoài Úc Văn
    2
  102. Trường Can hành kỳ 1 Thôi Hiệu
    15
  103. Trường Can hành kỳ 2 Thôi Hiệu
    14
  104. Tuế mộ quy Nam Sơn Mạnh Hạo Nhiên
    16
  105. Tuyệt bút Tùng Thiện Vương
    7
  106. Tự quân chi xuất hĩ kỳ 2 Trương Cửu Linh
    21
  107. Tương tư Vương Duy
    22
  108. U hận thi An Ba phường nữ
    5
  109. Văn thiền Đỗ Mục
    7
  110. Vọng Lư sơn bộc bố Lý Bạch
    29
  111. Vô gia biệt Đỗ Phủ
    7
  112. Xích Bích hoài cổ Đỗ Mục
    22
  113. Xuân dạ Lạc thành văn địch Lý Bạch
    21
  114. Xuân đán Chu Văn An
    11
  115. Xuân giang hoa nguyệt dạ Trương Nhược Hư
    16
  116. Xuân hiểu Mạnh Hạo Nhiên
    36
  117. Xuân oán Kim Xương Tự
    26
  118. Xuân tịch lữ hoài Thôi Đồ
    17
  119. Xuân tứ Lý Bạch
    60
  120. Xuất đô môn Phan Chu Trinh
    5
  121. Xuất tái - Lương Châu từ Vương Chi Hoán
    23
  122. Xuất tái kỳ 1 Vương Xương Linh
    15
  123. Yên ca hành Cao Thích
    6
  124. Yến thành đông trang Thôi Mẫn Đồng
    10

 

 

Ảnh đại diện

Nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng: Người thơ ở xứ mộng mơn Văn Thành Lê

Dẫu có thời lực lượng viết trẻ ở đất Thần Kinh khá hùng hậu, với những cái tên như Phạm Nguyên Tường, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Đông Hà, Lê Vĩnh Thái, Lê Tấn Quỳnh, Nguyễn Lãm Thắng, Châu Thu Hà… Tôi cứ cảm giác như các tác giả này mãi không chịu khác đi. Quẩn quanh mãi với “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Có lẽ Nguyễn Lãm Thắng là cái tên bứt lên được khỏi dàn đồng ca ấy, thoát khỏi lối mòn quen thuộc, và cựa quậy đến cùng với thơ...

1.Huế trước giờ vẫn được xem là xứ sở của thơ. Vua làm thơ. Quan làm thơ. Và dân làm thơ. Một dì bán nước mía ở cầu ngói Thanh Toàn có thể tự biên tự diễn với thơ mình cả ngày không hết. Cố nhà thơ Phương Xích Lô ngoài những cuốc xích lô mưu sinh, rảnh chút là có thơ hay.

Dường như ở đây người ta thở cũng có thể ra thơ. Nhiều tác giả không sống với Huế, chỉ đi qua hoặc tương tư thôi, thoáng chốc thôi, cũng để rớt lại cho nền thi ca Việt những tuyệt phẩm. Không tin cứ hỏi trong gia sản thơ của các thi sĩ như Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng, Nguyễn Bính, Thu Bồn, Nguyễn Duy... thì rõ ngay.

Xuyên suốt chiều dài thời gian, từ Phú Xuân trước đây đến Huế ngày nay, mảnh đất này thiếu gì thì thiếu, chắc chắn không thiếu thi sĩ. Thi sĩ xứng tầm với Huế cố đô, với Huế di sản, với dòng chảy thi ca dân tộc, chứ không phải mức độ thi sĩ bế quan toả cảng đóng cửa bảo nhau. Tuy nhiên, đến thế hệ làm thơ 7X, cho tới lúc này, độ tuổi từ 36 đến 46 rõ ràng đủ để chín nẫu rồi, thì hình như thơ Huế đang bàng bạc đi. Bàng bạc như sương khói dòng Hương lúc chiều xuống từ phía đồi Vọng Cảnh.

Dẫu có thời lực lượng viết trẻ ở đất Thần Kinh khá hùng hậu, với những cái tên như Phạm Nguyên Tường, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Đông Hà, Lê Vĩnh Thái, Lê Tấn Quỳnh, Nguyễn Lãm Thắng, Châu Thu Hà… Tôi cứ cảm giác như các tác giả này mãi không chịu khác đi. Quẩn quanh mãi với “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Có lẽ Nguyễn Lãm Thắng là cái tên bứt lên được khỏi dàn đồng ca ấy, thoát khỏi lối mòn quen thuộc, và cựa quậy đến cùng với thơ.

2.Trước khi “cựa quậy”, Nguyễn Lãm Thắng được biết đến là một trong những giọng thơ đẹp viết cho học sinh - sinh viên, râm ran với mùa chữ ngọt, cùng Đàm Huy Đông, Bình Nguyên Trang, Đinh Thu Hiền, Đường Hải Yên…

Thời gian gần đây, một số hiện tượng thơ trẻ nổi lên, làm thị trường sách vốn ảm đạm trở nên sôi động. Các ấn bản thơ thành best seller. Độc giả trẻ mua ồn ào, đọc ầm ĩ. Nhưng hình như đấy chưa phải là thơ, chỉ là những tản văn/ tản mạn/ suy nghĩ vụn được ngắt câu xuống dòng. Ý nghĩ đơn giản. Câu chữ đơn điệu. Xúc cảm đơn sơ.

Đọc vào, cảm giác người viết chưa có lao động chữ. Hay có lao động, mà chưa tới? Thế hệ thơ 7x, trong đó có Nguyễn Lãm Thắng, không thế. Ở họ có lao động chữ, với những câu thơ ngập tràn thi ảnh, giàu xúc cảm và nhạc tính.

Có lẽ không mấy sinh viên ngữ văn ở Huế lại không thuộc vài câu thơ trong tập “Điệp ngữ tình”, tập thơ đầu tay của Nguyễn Lãm Thắng. Những câu thơ hoặc trong veo hoặc buồn vu vơ của tuổi mới lớn được diễn đạt bằng thứ ngôn từ kĩ càng, chau chuốt, giàu hình ảnh, và lạ hoá vốn từ đã cũ, như: “Anh gom cô đơn nối lại những giọt buồn/ Trong đôi mắt chiêm bao của từng đêm giông bão/ Cái rét gánh tương tư về trong lảo đảo/ Từng giọt mưa trò chuyện với cơn mê”, hay “Nơi anh sống lối về thơm hoa cỏ/ Những con đường dung dị không tên/ Anh nằm nghe xanh mùa lên tiếng thở/ Từ trong hồn phố nhỏ thân quen”, rồi “Bâng khuâng gió chạm sân trường cũ/ Nắng đã thay mùa xanh biếc xanh/ Con bướm ngày xưa không đến nữa/ Nỗi buồn ghế đá cứ vây quanh, hoặc nữa: “Sợi khói buồn thơm những nụ hôn/ Chiều cướp vội bay theo đàn gió lạ/ Mùa đổi dạ lá run cành hối hả/ Anh khai sinh cho đá giọt thơ mềm” v.v…

3. Thực ra Nguyễn Lãm Thắng không phải người xứ Huế. Huế chỉ là nơi anh an cư. “Học trò trong Quảng ra thi/ Thấy o gái Huế chân đi không đành”. Câu ấy trúng phóc với Nguyễn Lãm Thắng. Chàng trai đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm làm sinh viên Sư phạm Ngữ văn Huế rồi thành giảng viên trong Khoa, kết duyên với o gái Huế cùng công tác tại Trường Đại học Sư phạm, thế là hết đường lui, cắm dùi ở lại mảnh đất, nói như nhà thơ Thu Bồn, là có “Con sông dùng dằng con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”.

Huế. Khúc giữa mềm mại và quyến rũ, trong Nam ra, ngoài Bắc vào, dường như người viết nào cũng một vài lần mắc cạn với mảnh đất này ít nhiều vài ngày. Và ở đấy, Nguyễn Lãm Thắng luôn hết mình với bạn văn nghệ. Mà không chỉ bạn văn nghệ. Cả những sinh viên cũng gần gũi, xem Nguyễn Lãm Thắng như người anh. Nửa đêm gà gáy hay giữa tháng ngâu mưa nhàu mặt mũi, bất cứ lúc nào ới là có anh lăn xả. Tôi nể Nguyễn Lãm Thắng bởi lẽ đó. Và nể anh một thì nể vợ anh mười.

Chẳng hiểu sao tôi cứ liên tưởng người vợ Nguyễn Lãm Thắng lấp lánh phẩm cách của vợ các cụ Văn Cao, cụ Phùng Quán, cụ Nguyên Hồng. Nếu không vậy, chắc chắn sẽ không có một Nguyễn Lãm Thắng sống hết mình với bạn và hết mình với thơ.

4. Sau “Điệp ngữ tình”, tập thơ đèm đẹp thuở ban đầu lưu luyến ấy, Nguyễn Lãm Thắng cựa mình, lột xác và khác hẳn, như chẳng dây mơ rễ má gì với kiểu thơ áo trắng sân trường trước đây, với tập “Họng đêm”. Thơ tự do, bứt phá, cách tân cả về hình thức, ngôn ngữ biểu hiện lẫn chiều sâu suy tưởng.

Nhà phê bình trẻ Hoàng Thuỵ Anh nhận định: “Các con chữ sắc ngọt, trương nở qua các công đoạn cắt dán và lắp ghép, hình thành nên những điểm nhô, nhọn, tượng trưng, siêu thực. Do đó, những thi ảnh của “Họng đêm” vừa cất giấu những ám ảnh vô thức, vừa đầy lí trí, gợi nhiều luồng tiếp nhận. (…) Với “Họng đêm”, Nguyễn Lãm Thắng thực sự đã minh chứng được vị trí của mình đối với thơ trẻ đương đại.”


Tiếp nữa là cuộc lội ngược dòng về lục bát, với tập “Đầu non cuối bãi”. Đọc 54 bài thơ, tưởng chừng Nguyễn Lãm Thắng làm thơ lục bát chẳng cần chút cố gắng hay đầu tư gì. Cứ tự nhiên như không. Lục bát chảy. Chảy trước mắt Nguyễn Lãm Thắng. Và anh lấy giấy ra hứng. Chảy từ đường phố vào. Chảy từ ngôn ngữ nói vào. Mà ngọt. Mà êm ru.

Người đọc dễ vấp phải những câu thơ kiểu ấy, như “Thưa em, anh biết chết liền/ Bàn tay năm ngón làm phiền… bàn tay”, hay “Một nghèo cộng với một nghèo/ Níu nhau, ta cõng qua đèo đức tin”, rồi “Nắng loang ướt lá bồ đề/ Tiếng chuông đột quỵ bên lề hoàng hôn”, và “Trời mang mang, đất mang mang/ Một đêm nằm nhớ văn lang quá trời”. Thi sĩ Du Tử Lê gọi Nguyễn Lãm Thắng là “Người thi sĩ trẻ tuổi có những ngôn ngữ đường phố trong lục bát, cho tôi niềm hân hoan. Hạnh phúc. Mới”.

Từ “Điệp ngữ tình” đến “Họng đêm” rồi “Đầu non cuối bãi”, là đi từ mới lớn mộng trắng trong đến cách tân đương đại và trở về làm sáng truyền thống. Nhiều người trẻ đi như vậy, không riêng gì Nguyễn Lãm Thắng.

Tất nhiên, trên “lối mòn hoa cỏ” ấy, đi đứng cụ thể ở mỗi người là khác nhau. Nhưng thoát xác, trở lại trong veo với thiếu nhi, thì chưa nhiều nhà thơ làm, và làm có dấu ấn, nhất là vài năm gần đây. Tập thơ “Giấc mơ buổi sáng” gồm 333 bài thơ thiếu nhi của Nguyễn Lãm Thắng khiến nhiều người bật ngửa. Trong trẻo. Hồn nhiên. Dễ thương. Nhiều bài thơ được nhạc sĩ Trương Pháp phổ nhạc, đoạt giải ở các cuộc sáng tác nhạc cho thiếu nhi, trẻ em hát véo von suốt ngày.

5. Sự tài hoa của Nguyễn Lãm Thắng không chỉ toát ra theo bề mặt chữ mà còn toát ra từ… miệng. Trong bất cứ cuộc gặp gỡ vui vẻ nào, chén trước chén sau là anh nói thơ, nói gì cũng câu sáu câu tám. Tất cả đều có thể ca vọng cổ. Giọng Quảng đọc thơ đã hùng hồn, dẫu với nhiều người phải cần phiên dịch, ca vọng cổ lại càng mùi và… cuốn.

Hồi tôi còn ở Bà Rịa - Vũng Tàu, hằng năm Nguyễn Lãm Thắng đều vào Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu dạy lớp liên thông đại học theo dạng liên kết với Đại học Huế. Mỗi lần anh vào anh em lại ngồi với nhau. Nhâm nhi vài ly. Nhâm nhi chuyện Huế. Nhâm nhi chuyện văn nghệ. Cách Nguyễn Lãm Thắng ngồi giữa bàn nhậu, khiến người xa lạ thành gần gũi, người mới quen thành thân thiết, và người đã biết thành tri kỉ. Thơ văn xoá nhoà mọi khoảng cách. Chữ nghĩa kéo mọi người về cùng một phía. Và Nguyễn Lãm Thắng phiêu bồng theo miền chữ.

Sau cùng, tôi muốn nhắc đến mấy câu thơ Nguyễn Lãm Thắng tự hoạ về mình ngay từ thuở ban đầu cầm bút, rằng: “Tôi vẽ mặt tôi với màu da gió rét/ Ngoài kia còi tàu giục giã cuộc đi/ Tôi hong chân dung bằng hơi rượu nóng/ Khói thuốc bềnh bồng mở cõi thiên di…”. Đến giờ, sau biết bao lao lung và chấp chới, tôi vẫn tin anh tự hoạ về mình trúng quá. Cuộc đi và thiên di của anh là đi vào thơ và thiên di theo thơ. Bởi vậy, tôi gọi Nguyễn Lãm Thắng là người thơ ở xứ mộng mơ!

Văn Thành Lê
08:37 27/09/2016

Nguồn: http://vnca.cand.com.vn/d...-mon-Van-Thanh-Le-409923/
15.00
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Nguyễn Lãm Thắng và sự sống được nuôi bằng cái chết

Từ tập thơ đầu tay – Điệp ngữ tình cho đến nay, thơ Nguyễn Lãm Thắng đã có sự lột xác hoàn toàn. Cái giản dị, mộc mạc, đằm thắm giờ đây được hoán đổi bằng những vần thơ tự do, triết lý, bằng những hình ảnh siêu thực, những cuộc kết nối ngôn từ dư ba.

Mỗi nhà thơ đều có sở trường, sở đoản trong việc xây dựng hình ảnh thơ. Với Nguyễn Lãm Thắng, anh thường dùng hình ảnh để luận bàn về chính nó. Tìm được hình ảnh mấu chốt trong bài thơ, cơ hội nắm bắt dòng chảy triết lý càng lớn. Tất nhiên, nhà thơ không dễ dàng nói A là A, mà thường khúc xạ A qua nhiều lăng kính. Nhà thơ khúc xạ hình ảnh của mình bao nhiêu thì ý nghĩa mà nó mang đến có thể là vô cùng, nghĩa là hình ảnh không bất động, xơ cứng mà luôn sống động. Hơn nữa, chiều sâu của hình ảnh thơ mới là tấm gương đích thực cho thế giới thực tại. Hình ảnh “trở thành một con đường tắt nối hai thực tại, một đoản mạch loại bỏ những liên hệ duy lý nói lên những nhận thức mới lạ về thế giới hiện tại”. Trong thơ Nguyễn Lãm Thắng, hình ảnh rất phong phú, đa dạng: về biển, về lũ trẻ, về loài côn trùng, về người đàn bà học vẽ, về lăng tẩm, bia mộ... Các hình ảnh đều thấm chất thế sự. Dáng vẻ trong xanh, thơ mộng của con sông bị đẩy lùi bởi lớp trầm tích: xác chết, nhịp thở của gái điếm, cuộc nhậu vô tội vạ... Hình ảnh phố chật chội người, sặc mùi than đá ong, nhà bia nằm chung với rác, inh ỏi còi xe, tiếng rao, nghẹt thở với nhiều công trình... như ngốn hết bầu không. Rừng nguyên sinh nay trở thành đất có chủ. Mọi người được tự do khai phá và kể cả việc làm thẻ đỏ cho rừng. Nhà thơ gọi đó là sự lẫn lộn thật khổng lồ:
ta tập mở mắt lần nữa để nhìn thế giới phía giác độ người mù
để thấy đằng sau câu chúc tụng là vết đâm tứa máu
để thấy từng miếng thời gian gãy khúc trên chiếc lưỡi dối lừa
để thấy sự hoài nghi trong từng nụ hôn

vài ba giọt rượu lăn lóc trên bầu vú căng phồng sữa độc
ngày kéo dài hơn những vở tuồng phù phiếm
đêm hoang mang hơn những huyền thoại đen như máu ứ
trục đất đang nóng dần trong tim ta
máu đang bùng lên ngọn lửa
(Máu đang bùng lên ngọn lửa)
Các hình ảnh thơ mang giá trị riêng tuỳ theo ý đồ của người nghệ sĩ. Xuyên suốt hành trình thơ tự do của Nguyễn Lãm Thắng, hình ảnh cái chết được lặp đi lặp lại khá nhiều. Chết là quy luật tự nhiên. Không ai thoát khỏi vòng quay nghiệt ngã của số phận. Vấn đề là chúng ta có vượt qua được một cách thoải mái hay không? Vì cuộc đời này chỉ là bến dừng chân, bến đỗ, là cõi tạm, chỉ có thế giới bên kia mới là thực, là vĩnh cửu. Khi ấy chúng ta mới thực sự sống. Nói như nhà soạn nhạc W.A.Mozart: “Tôi cảm ơn chúa đã độ lượng ban cho mình cơ hội để hiểu rằng cái chết là chìa khoá mở cánh cửa dẫn tới chân hạnh phúc”. Viết về cái chết, Nguyễn Lãm Thắng hoàn toàn tự chủ, bản lĩnh:
tôi sở hữu hàng ngàn cánh đồng bạt ngàn nỗi buồn

hàng vạn ngôi mộ gió
tôi tin vào điều đó
như tin vào cái chết của mình

tôi vĩnh viễn sở hữu cái chết ấy
(Sở hữu)
Sự tự thức bản ngã giúp anh sở hữu được nó. Nói thế, không phải anh lẫn tránh, lo sợ hay vô trách nhiệm mà thực ra đó là cách anh giữ cho tâm hồn mình không bị hoen rỉ, biến chất trước thế cuộc đầy bất ổn: chiến tranh, thù oán, giả dối... Anh nói đến cái chết để đoạn tuyệt với thế giới rỗng rễnh, lên án, phủ nhận nó. Và anh sẵn sàng đón nhận cái bi thương: tôi biết tiết kiệm những nỗi đau của mình/ để biến nó thành những quả đồi mang hình nấm mộ/ chôn những linh hồn vất vưởng (Tiết kiệm). Hình thức tiết kiệm đặc biệt ấy chỉ có ở những con người giàu lòng trắc ẩn như Nguyễn Lãm Thắng.

Thơ ca non giống sẽ chịu số phận chết yểu. Người nghệ sĩ cần sinh những đứa con đủ ngày, đủ tháng. Nếu không, chúng chỉ chóng vánh như cơn mưa rào tháng sáu. Bằng những lời thành tâm, anh bày tỏ chính kiến: bạn đâm vào tim tôi bằng những lời khen ngọt như đường phèn/ bạn bảo tôi hãy sống/ và hồn nhiên sống/ đừng âu lo/ buồn bực/ hãy an phận/ an phận tột cùng/ để ăn tròn ba bữa/ và gắng sức đẻ ra những câu thơ cũ mèm nịnh bợ/ vâng/ cảm ơn bạn/ bạn hãy xem tôi đã chết từ lâu/ thế nhé! (Bạn ảo). Ý thức được sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ, anh xem cái chết của bài thơ cũng chính là cái chết của mình:
những con chữ run lên đợi ngọn lửa hoá vàng
tôi thắp nghìn chung rượu
mời những sinh linh thơ thiếu tháng
đã chết trong bào thai sự thật
[sự thật thường yểu mệnh hoặc bị chối bỏ như một quái thai]

những giọt mưa
vấp tiếng kinh cầu nguyện
lăn lóc trên linh hồn bạch lạp
tôi gục đầu
tưởng niệm chính tôi
đưa tiễn một phần đời mình xuống mộ!
(Khóc cho bài thơ chết non)
Cái chết ám ảnh người thơ. Chính anh đã viết: cái chết tồn tại trong ta. Anh chấp nhận, trân trọng và sắp đặt cái chết cho mình. Anh nói về cái chết trong tâm thế vô tư như là sự thách thức, tuyên chiến với cuộc sống này – một cuộc sống hoang hoác, đầy những cạm bẫy. Khi lòng người bị nhiễm mặn/ niềm tin bị xâm thực, anh thành thực: tôi sợ những chuỗi ngày mệt mỏi thừa thải vô tích sự cứ trôi qua như xác chết khổng lồ/ giẫm lên đời tôi (Thêm một ngày kết tủa). Anh thẳng thừng tẩy chay việc lặp lại chính mình: câu thơ mọc sợi tóc buồn trên truông già khi vết cắn/ còn bầm đen của nòi rắn độc/ gió róc cơn mê khủng/ gió xoáy âm khí/ ngày đã chết vào đêm vũng lầy xương trắng trong chiếc hộp bình minh rỗng tuếch/ sự lặp lại đớn hèn! (Câu thơ bung gai giữa ngày không nắng). Vậy, Nguyễn Lãm Thắng không tìm đến cái chết để trốn chạy, lánh đời, ngược lại, nó minh chứng cho sự nổi loạn, dấn thân vào thế giới thực này bằng chính bản ngã của anh. Nói như Albert Camus: Tôi nổi loạn, vậy tôi hiện hữu. Xét theo ý kiến của Camus, có thể coi Nguyễn Lãm Thắng là một thi sĩ nổi loạn. Dùng cái chết để tỏ sự bất mãn và chống lại sự suy về thời cuộc. Điều đó khiến thơ anh có cái bản lĩnh, tố chất của một cái tôi biệt dị và có phần ngông. Mà sự đời cái biệt dị luôn đi liền với cái ngông. Nguyễn Lãm Thắng ngông để bộc bạch cái tôi của mình. Một cái tôi cô đơn, đau đớn đến tột cùng trước thực trạng những tệ nạn của xã hội, song anh không đánh mất chính mình. Sống ở thế giới này mà Nguyễn Lãm Thắng đã với đến được khoảng không gian của thế giới bên kia:
ròng rã những tang thương trôi theo từng bước chân
mỗi ngày tôi đưa tang một lần
mỗi đêm tôi đưa đám tang tôi về khư mộ
nơi đó tôi nghe tiếng trẻ khóc oằn trên vũng đói
nơi đó tôi nghe âm thanh máu đổ
nơi đó tôi nghe bốn mùa tạo hoá chỉ còn một mùa đông rởn xương
nơi đó tôi nghe những bi kịch đang hấp hối
nơi đó tôi nghe đất và nước quằn quại bi thương bởi căn bệnh ung thư não nơi đó tôi nghe ròng rã tiếng ma cười...
(Ròng rã nơi đó...)
Từ việc mổ xẻ cái chết của chính mình, nhà thơ phản chiếu hiện thực của thế giới này. Nếu đứng trong cảnh thực để nhìn đời thực có lẽ chưa thể khái quát hết, vì thế, Nguyễn Lãm Thắng đứng trong cõi âm, phóng mình vào cõi âm mà chiếu ra mới thấy hết từng lớp màn sương bao phủ của thế thái nhân tình. Nhờ vị thế ấy, thơ anh trở nên ma quái, hun hút những hố sâu của sự liên tưởng. Người đọc có thể nhận dạng qua một số tiêu đề như: Chiều mọc râu trên hoàng hôn cỏ; Câu thơ bung gai giữa ngày không nắng; Đêm nở ra hoa ấm; Bài hát buồn của bầy chim tổ rách; Tôi nhặt mình trong góc sân nhà thờ; Ở một góc phố câm có cơn mưa điếc... Nhiều câu thơ khai thác hình ảnh siêu thực: trong cuống họng của ánh sáng; đêm hoang mang hơn những huyền thoại đen như máu ứ; bóng đêm gợn lên thuỷ triều đen; tiếng hôn nhảy múa lăn tròn trên ngực em; trên đầu lưỡi ban mai quyện dính những sợi tơ mướt, câu thơ mỏng như cánh ve non trần truồng hơi thở... Câu chữ thơ anh đứt gãy, bị xô lệch trong những trận ngôn từ chắt lọc, vượt khỏi tầm kiểm soát của người đọc. Không chỉ thế, tránh sự đơn điệu khi nói về cái chết, Nguyễn Lãm Thắng còn sử dụng rất nhiều từ cùng trường: cõi tĩnh (những tín hiệu rú lên trong cõi tĩnh), mộ địa (những con đường mộ địa), huyệt mộ (nỗi buồn cứ kéo dài ra khi huyền thoại một loài dơi bay qua huyệt mộ), âm hồn (phố/ như bàn tay âm hồn điên loạn), cô hồn (chiều muộn cô hồn/ bầy chim sẻ hoảng hốt giữa chiêm bao), linh hồn (tôi vác linh hồn xuống dốc), rỉ máu (chập choạng vầng trăng rỉ máu dậy thì), ma (mặt người lẩn vào cơn hen suyễn ma trơi; cái chết vực dậy bóng ma trong suy nghĩ loài người)… Một số dẫn chứng trên đã chứng minh sự tinh tế và tài hoa của một hồn thơ đất Quảng.

Dẫu rằng sự sống thơ anh được nuôi dưỡng từ cái chết, là một cõi về cho tôi mầm sống có phần bi thương nhưng là cái bi thương thăng hoa cốt cách, nhân phẩm của người nghệ sĩ. Hơn nữa, quyền năng đặc biệt của nhà thơ, là tạo ra một vật không thể nào có kiểu mẫu (André Frénaud). Trước cám cảnh thế sự, chọn cho mình một lộ trình như thế, Nguyễn Lãm Thắng đã khẳng định phong cách riêng cho mình. Đối với anh, khoảng cách sống và chết, yêu và ghét luôn rạch ròi: câu thơ cõng lời ru trong bể lửa hun từ nước mắt/ lặng lẽ đi/ bia mộ nào khắc ghi được tiếng thở/ bởi hơi thở cuối cùng là di ngôn rạch ròi yêu và ghét (Câu thơ bung gai giữa ngày không nắng). Như vậy, cái chết là kiểu mẫu thiết kế riêng cho thơ Nguyễn Lãm Thắng – một thi sĩ hết mình vì nghệ thuật và cuộc sống.

Đồng Hới, ngày 7-6-2011
Hoàng Thuỵ Anh

Nguồn: http://vannghedanang.org....tiet.php?id=357&so=30
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên Facebook
Ảnh đại diện

Thơ Nguyễn Lãm Thắng và những sự thật nghiệt ngã

Nhà thơ, Thạc sĩ Hán Nôm Nguyễn Lãm Thắng sinh 14/8/1973, Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên-Huế, Trưởng Gia đình Áo trắng Huế. Hiện anh là Giảng viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học sư phạm Huế.

Sau khi học xong ĐHSP Huế anh đã từng làm nhiều nghề để kiếm sống, sau đó anh mới về giảng dạy. Chính thời gian anh lăn lộn trong Nam ngoài Bắc để kiếm sống ấy nó đã trở thành vốn sống, vốn kinh nghiệm, thành nguồn cảm xúc, đem đến cho thơ anh một giọng điệu khác lạ, tạo ra một nét phong cách riêng không thể lẫn lộn với bất cứ một nhà thơ nào. Ngay trong chính hành trình thơ của anh cũng có sự chuyển biến, chuyển biến gần như là đối lập. Nếu ở tập thơ đầu tay Điệp ngữ tình (NXB Hội Nhà văn, 2007) những bài thơ mộc mạc, giản dị, da diết về tình yêu và sự sống thì đến những bài thơ anh sáng tác gần đây nó không còn đằm thắm như thế nữa. Ngôn từ giờ đây đã có sự “nổi loạn”- câu thơ ngắn, dài, liền mạch, đứt quãng tạo nên những khoảng lặng, khoảng trống; đôi lúc gây khó hiểu cho người tiếp nhận. Nhưng chính điều này đã tạo nên phong cách và hồn thơ Nguyễn Lãm Thắng, một hồn thơ đau đáu nỗi niềm, một sự ám ảnh của cuộc sống nhân sinh. Tất cả mọi khía cạnh của đời sống xã hội được đưa vào thơ anh ngồn ngộn, dạt dào tuôn chảy theo dòng cảm xúc của một con người có một lối sống nội tâm độc đáo.

Đối diện với anh, nói chuyện với anh ta bắt gặp một con người hiền lành, một đôi mắt buồn với cái nhìn xa xăm. Nhưng bao giờ anh cũng nở một nụ cười phúc hậu. Có thể nói ẩn đằng sau nụ cười ấy, đôi mắt ấy là những suy tư, trăn trở, dằn vặt, có cả sự đau đớn của một công dân sống hết mình vì cái đẹp, cái thiện, cái cao cả của cuộc sống này.

Bằng cách sử dụng từ ngữ, tứ thơ và những nét mới trong thơ anh, Nguyễn Lãm Thắng đã tạo được một nét dị biệt và có phần ngông. Nói như Hoàng Thuỵ Anh: “Nguyễn Lãm Thắng ngông để bộc lộ cái tôi của mình, một cái tôi cô đơn, đau đớn đến tột cùng trước những thực trạng xã hội, song anh không đánh mất chính mình”.

Với đôi mắt nhạy cảm của người nghệ sĩ anh nhìn cuộc sống này ở cả bề rộng lẫn chiều sâu. Bên cạnh những cái tốt đẹp người ta vẫn ca tụng hằng ngày anh còn nhận ra những cái xấu, những mặt trái, sự oái ăm, nghịch lý của cuộc đời. Nhìn cuộc sống ở trần thế này chưa đủ anh đã tự đưa mình vào thế giới cõi âm để nhìn nhận cho toàn vẹn, đủ đầy những tiêu cực, hạn chế, yếu kém, bất công... của cuộc sống thực tại.

Vì vậy, hình ảnh cái chết, bia mộ, lăng tẩm được nói đến nhiều trong thơ anh cũng có nguồn cội sâu xa của nó. Đúng như Jakobson nói: “Thơ là sự trở lại hình ảnh, nhịp điệu, cảm xúc... thơ là sự trùng điệp liên tục, điệp trùng gây day dứt, khắc khoải đến đau đớn, nhức nhối hoặc gợi những giấc mơ xa”.

Anh nói đến cái chết, sẵn sàng chuẩn bị đón nhận nó không phải là anh lẫn tránh, lo sợ, trốn chạy nó mà theo anh đó là cách tốt nhất để giữ cho tâm hồn không bị hoen rỉ, bào mòn, biến chất trước cuộc sống đầy những biến động, bon chen, cám dỗ và đầy những cạm bẫy!
Tôi biết tiết kiệm những nỗi đau của mình
để biến nó thành những quả đồi mang hình nấm mộ
chôn những linh hồn vất vưởng
(Tiết kiệm)
Khi lòng người bị nhiễm mặn/ niềm tin bị xâm thực, anh đau xót thốt lên: tôi sợ những chuỗi ngày mệt mỏi thừa thải vô tích sự cứ trôi qua như xác chết khổng lồ/ giẫm lên đời tôi (Thêm một ngày kết tủa) Những sự thật hết sức nghiệt ngã của cuộc sống này đã được nhà thơ phản ánh một cách khá sinh động trên nhiều phương diện, khía cạnh, sự việc. Đó có thể chỉ đơn giản là: một tiếng khóc trên đồng, một dòng sông, một góc phố, những linh hồn trôi, trái tim mùa cũ, trong cơn mưa vội, bài hát buồn của bầy chim tổ rách, lời ru của người cha trẻ, chuyển động của thời gian, những oan hồn hoá đá, bi kịch, trước biển, một chiều nghĩa trang, cỏ mọc thành giếng cũ, một chiều nắng xế miền Trung, có thể nói nhiều về cái không thể nói, thấy lạnh trong hồn...

Tất cả đều đi vào thơ anh như là sự giãi bày những cảm xúc, những nỗi lòng, những tâm sự; có lúc đó là những lời độc thoại với chính mình như một sự chiêm nghiệm, suy ngẫm, soi xét...

Chỉ ra được như vậy theo tôi đó là một điều rất đáng quý, đáng trân trọng, chỉ ra rõ như thế để chúng ta biết cách mà sửa chữa. Và sửa để mục đích nhằm thanh lọc, loại bỏ, hạn chế, khắc phục cái xấu, cái sai, cái nhược điểm... làm cho cuộc sống ngày càng tiến bộ hơn, ý nghĩa hơn, đáng sống hơn.

Dẫu biết rằng, việc anh nói chân xác, thực quá, có lúc gọi đích danh sự việc.... Có người sẽ cho anh là thế này thế nọ. Điều này cũng dễ hiểu vì văn chương vốn dĩ muôn đời là thế, nó phải chịu sự phán xét của bạn đọc, của xã hội, của sự khen chê, những lời ca ngợi hay những quy kết... Nhưng chúng ta tin chắc rằng anh không hề dựng chuyện, tô vẽ thêm mà đó là những sự việc có thật được anh phản ánh bằng thơ.

Chẳng hạn trong bài Khi lũ trẻ lớn lên:
chúng không biết màu xanh của mùa xuân khát vọng
nhưng chúng biết màu xanh của những hình xăm trên ngực trên lưng trên
đùi trên rốn trên mông
chúng không biết khúc tấu ca mùa hè của loài ve ngàn dặm
nhưng chúng biết những nhạc khúc yểu mệnh cùng với ca từ sáo rỗng
nhạt phèo như nước ốc
chúng không biết lá mùa thu vàng hay đỏ
nhưng chúng biết tóc vàng lốm đốm mắt xanh môi đỏ hợm người
chúng không biết ruộng đồng ngày mưa tháng nắng ướt dầm mưa đông gió
rét
nhưng chúng biết say sưa trên cánh đồng web để cày xới game online chát
chít sex và “yêu”

......................
rồi chúng lớn lên
mơ hồ những địa danh lịch sử
mơ hồ nguồn cội Rồng Tiên
mơ hồ chính mình
mơ hồ trong từng hơi thở
bởi sự thật tìm đâu trong lớp lớp mơ hồ?
Bài thơ phác hoạ rõ nét những thực tế hết sức đáng buồn của một bộ phận thế hệ trẻ hôm nay- những người được coi là chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng rường cột của nước nhà. Chính họ có đủ mọi điều kiện để học tập, trau dồi tri thức, làm được nhiều việc có ích khi đang thừa hưởng mọi điều tốt đẹp. Ấy vậy mà họ đã đánh mất đi nhiều thứ, những điều căn bản cần phải có thì họ lại không quan tâm. Ngược lại họ chú ý đến cách ăn chơi đua đòi, xăm mình, nhuộm tóc, học đòi những kẻ côn đồ, đầu đường xó chợ... Chúng có biết đâu nỗi vất vả cơ cực của bố mẹ ông bà? Chúng đã đánh mất đi cái gọi là bản sắc, là truyền thống, là cốt cách, tinh hoa của dân tộc.... Chúng yêu đương theo kiểu mì ăn liền, sống gấp, sống vội và chúng chỉ biết sống để hưởng thụ, sống ngày hôm nay mà không cần biết cho ngày mai! Đau xót biết nhường nào, khi:
khi lũ trẻ lớn lên không thèm biết hai từ đất nước
chúng chỉ biết tìm cái nghề trong cái nghĩa làm thuê
bởi bằng cấp cũng chỉ là món hàng đem ra chợ bán
Đất nước hai tiếng ấy nó thiêng liêng làm sao! Ông cha ta mấy nghìn năm nay đã đổ biết bao máu xương cũng vì nó. Vì lòng tự tôn, vì ý thức giống nòi, vì mình là con Rồng cháu Lạc phải sống đúng với lương tâm và trách nhiệm. Ấy vậy mà một bộ phận thanh thiếu niên vì đua đòi ăn chơi lêu lỏng nên bỏ học giữa chừng, thiếu sự quản lý của gia đình, nhà trường và xã hội dẫn đến hậu quả là làm nhiều việc phạm pháp như: cướp giật, đâm chém, nghiện ngập và rất nhiều vụ vi phạm pháp luật đau lòng khác xảy ra...con số thanh thiếu niên phạm tội ngày càng gia tăng. Đó là nỗi đau đấy chứ, gánh nặng đấy chứ?

Một sự thật nghiệt ngã nữa đó là việc chạy chức, chạy quyền, mua bằng cấp đã và đang diễn ra. Bằng cấp giống như một món hàng rao bán chợ, bằng Đại học, thậm chí bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ cũng được bán!

Một bộ phận nhỏ cán bộ vì nhiều lý do cũng tranh thủ kiếm cho mình một cái bằng cho nó “oách” nhằm phòng thân. Có vị đang giữ cương vị chủ chốt ở một vài cơ quan, đơn vị chưa có bằng THPT nhưng đã có đến mấy bằng Đại học. Có vị chưa học một ngày, một giờ nào ở trường vẫn có bằng Tiến sĩ. Một số Tiến sĩ giấy ở nước ta như báo chí đã đưa tin là một minh chứng.

Nguyễn Lãm Thắng đã có sự liên tưởng khá thú vị trong “Thí điểm hay trò chơi” từ chuyện những tin nhắn điện thoại tác giả đặt ra nhiều vấn đề lớn cần suy ngẫm về sự thay đổi xoành xoạch của nền giáo dục nước nhà.
Vẫn còn đó bệnh thành tích, một căn bệnh mãn tính đã và đang diễn ra ở mọi cấp, mọi ngành và để lại những hậu quả khôn lường...

Những cơn đại hồng thuỷ đã cướp đi rất nhiều mạng người hằng năm, những cơn lũ bất chợt từ thượng nguồn đổ về, cảnh tang tóc đau thương, mất đi nhà cửa người thân, người còn may mắn sống sót phải cố bám trụ để mà sống. Thậm chí có những cơn đại hồng thuỷ đi qua, có nơi bị xoá sạch...
Cơn hồng thuỷ dồn lên cổ họng
mặt đất tắt thở
những con sông đồng loã
cấu kết dìm kiếp sống
những mảnh đời sâu đo
Ngọ nguậy trong biển lũ
quét

quét chỉ còn lại vạt đất trống
không người khóc
(Những con sông cướp máu phố phường làng xóm)
Vì sao vậy? Rừng thượng nguồn giờ bị tàn phá dữ dội, rừng giờ đã có chủ, người ta đã chặt phá, đốt sạch rừng nguyên sinh để thay vào đó là việc “trồng cây gây rừng”? Nhà thơ gọi đó là:
Sự lẫn lộn thật khổng lồ
giữa đốt rừng
và trồng rừng
........................
núi rừng là của chung cho mọi người dân
là nơi kiếm củi, làm rẫy, hái sim, và chôn người thân...
mà bây giờ
núi rừng quê tôi đã có (thẻ đỏ)
dễ hiểu hơn là đã có chủ
(Rừng ơi ta khóc cho rừng)
Tận trong sâu thẳm tâm hồn, trái tim một con người sống thành tâm anh thảng thốt:
Ta tập mở mắt lần nữa để nhìn thế giới phía giác độ người mù
để thấy đằng sau câu chúc tụng là vết đâm tứa máu
để thấy từng miếng thời gian gãy khúc trên chiếc lưỡi dối lừa
để thấy trong sự hoài nghi trong từng nụ hôn

vài ba giọt rượu lăn lóc trên bầu vú căng phồng sữa độc
ngày kéo dài hơn những vở tường phù phiếm
đêm hoang mang hơn những huyền thoại đen như máu ứ
trục đất đang nóng dần trong tim ta
máu đang bùng lên ngọn lửa
(Máu đang bùng lên ngọn lửa)
Ta cũng bắt gặp một sự thật, một sự thật quá ư đáng buồn, nói ra đến phát khóc trong Cuối năm và cảm giác tồn vong của lão Q
...........................

năm ngoái/ vào dịp tết/ có tiền cứu trợ cho những hộ nghèo đói/ thằng con trai lên xã từ 7 giờ sáng/ trưa quên ăn/ chờ mãi đến chiều/ nghe nói đoàn còn bận phát chẩn ở hai xã khác chưa về/ người nghèo đứng chờ chật cả sân uỷ ban xã/ khói thuốc bay lòng vòng ngột ngạt bao vây kiếp nghèo phận khổ/ rồi 8 giờ tối đoàn mới về/ mấy ông cán bộ còn nạt nộ la lối om sòm/ thôi cứ giả điếc giả câm giả lơ cho qua chuyện/ tội nghiệp đôi dòng nước mắt/ cứ rỉ ra từ hai con mắt đỏ hoe/ đêm nớ có người thức tới 2 giờ sáng mới về đến nhà/ nhận được đồng tiền cũng chảy máu con mắt/ tưởng rứa là êm chuyện/ ngờ đâu/ về nhà/ còn bị mấy chú cán bộ thôn (làng văn hoá) chặt bớt một nửa/ các chú còn doạ/ nếu không “tự nguyện” (chia sẻ) sẽ bị xoá tên khỏi danh sách người nghèo/ đành ngậm đắng nuốt cay mà chấp nhận/ dù chi nghèo cũng đã nghèo rồi/ âu cũng là của bổng trời cho...

Có lẽ chúng ta không cần bàn luận nhiều, những gì đã nói trong bài thơ đã rõ. Đau xót quá! Tủi nhục quá! Vẫn là chuyện miếng ăn, vẫn là cảnh đói nghèo thê thảm, vẫn là chuyện cán bộ ăn chặn của dân! Thiết nghĩ, những anh cán bộ như thế có còn là đầy tớ của nhân dân hay nhân dân là đầy tớ? Cán bộ mà đan tâm làm được những việc nhơ nhuốc đó thì làm sao dân tin? Hoá ra chính những việc làm bậy bạ, chính thái độ coi thường nhân dân, coi thường pháp luật, họ đã tự đánh mất danh dự và nhân phẩm chính mình.

Ai đã từng đi qua phố chắc chắn sẽ nhìn thấy những hình ảnh mà nhà thơ vẽ nên trong bài Góc phố. Dù rằng có lúc người qua đường sẽ cảm thấy quen thuộc với những hình ảnh, những âm thanh, việc làm ấy! Nhưng với những người có tâm hồn nhạy cảm, những người có trách nhiệm, họ sẽ nghĩ suy gì?

Những hình ảnh được phản ánh, được ghi lại trong bài thơ có phải là xã hội thực sự văn minh không? Những câu hỏi lớn đang đặt ra cho nhiều cấp, nhiều ngành, cho ý thức trách nhiệm của từng công dân trước yêu cầu của thời đại.

Đến bài Những câu hỏi thầm trong quán nhậu:
Bao nhiêu tiếng hô một
hai ba zô zô zô!
bao nhiêu tiếng cười tràn
trề gác quán bao nhiêu
em gái xinh đẹp hở
ngực hở rốn bao nhiêu
lời nịnh lời khen lời
chê sau lưng bao nhiêu
cái bắt tay hờ...
và bao nhiêu tờ hoá đơn đỏ?
Cũng là một sự thật 100%, nó đang diễn ra hàng ngày hàng giờ quanh ta đây thôi, dù rằng ai cũng biết nhưng lâu rồi cũng trở thành bình thường? Một sự bình thường nhưng lại nhức nhối! bởi đằng sau những cuộc nhậu, cuộc chơi vô tội vạ ấy, những tờ hoá đơn đỏ ấy chính là những sự giả dối, lọc lừa, một cuộc sống đầy những phù phiếm, lố lăng, hoang hoác, hỗn tạp, xô bồ... Họ có biết đâu rằng vẫn còn đó biết bao người dân, bao mảnh đời phải sống trong đói nghèo, vật vã, đau thương?

Trước sự biến đổi thế cuộc, những gì là ký ức là kỷ niệm đẹp một thời giờ nó đã trở thành dĩ vãng xa xôi, khó mà tìm lại được. Trong số những ký ức ấy, nhà thơ đau đáu nuối tiếc cho làng xưa của mình: nơi có luỹ tre xanh, có mái đình cổ kính, vòm nâu mái ngói, thờ Thành hoàng làng oai linh lẫm liệt, rất thiêng liêng, nghi ngút khói hương trong những ngày tế lễ xuân thu... Tất cả những điều ấy đã ăn sâu vào máu thịt, vào tiềm thức. Ấy vậy mà:
Qua gió bụi thời gian
nghẹn ngào dâu bể
làng mất tên
đình chùa tiêu thổ
những mả đống gò mồ nghĩa địa... còng lưng vào núi xa
leo lên mấy đồi mấy dốc
bia gãy đứt làm đôi
ma lên ngủ trên đồi
huyệt mộ nhường cho ngô lúa
chết rồi hồn phách không yên
nhường nhà mồ cho dự án quy hoạch cư dân
cho ruộng đồng cải tạo
rồi làng không còn làng
dẫu tên gọi mới là làng-văn-hoá...
(Ký hoạ làng)
Bên cạnh việc nói đến những hiện thực của đời sống Nguyễn Lãm Thắng còn vẽ lại bức chân dung tự hoạ về mình, về người thân với những gian truân vất vả, khổ đau, buồn vui lẫn lộn và quá khứ đau thương, bi thảm của những năm tháng còn trong khói lửa chiến tranh. Đó là nỗi đau của người cha mù không thấy mặt con ngay lúc chào đời, rồi những năm tháng tuổi thơ của tác giả sống trong nhọc nhằn, tủi cực và đói khát, sự ra đi không bao giờ trở lại của người của những người ruột thịt...

Để rồi từng cơn đau thắt ruột lại đến với anh, đã dắt anh vào những giấc ngủ ma/ những giấc ngủ chập chờn nửa mơ nửa thực/ gặp lại người anh ruột/ chết đã mười ba năm vì tai nạn giao thông ở Gò Vấp/ anh gặp lại người em chết đói năm 1977 không gặp mẹ lần cuối cùng/ khi mẹ về Đà Nẵng kiếm từng manh áo rách, bo bo/ anh gặp lại người cha già thương phế hơn 35 năm viết câu thơ lành lặn... (Từng cơn đau thắt ruột)

Vốn là một con người giàu lòng trắc ẩn Nguyễn Lãm Thắng chợt nhận ra mình còn nhiều điều dang dở chưa thực hiện được khi tuổi đời đã gần 40!
................
gần bốn mươi năm
chưa trọn một giấc mơ
tự xé mình ra
hai mươi năm mất ngủ
từng ngón tay dắt mình vào nấm mộ
những huyền thoại cuộc đời bóp nghẹt trái tim đau!

gần bốn mươi năm
râu tóc trẽn trơ màu
ngờ nghệch phố
lều bều bao nẻo chợ
giọng ly quê
nôm nồm lơ lớ
...................
băm sáu tuổi đầu
len lén ghé tai nghe
khuya xao xác dăm tiếng gà gáy muộn
và len lén nhìn mây trời gãy vụn
thực thực hư hư ảo ảo huyền huyền
...................
Rồi còn biết bao nhiêu sự thật nghiệt ngã khác của đời sống này được Nguyễn Lãm Thắng viết thành thơ. Ở đây trong khuôn khổ bài này người viết chỉ lấy một vài dẫn chứng minh hoạ mà thôi.

Nhìn chung, những bài thơ anh sáng tác ở giai đoạn sau này hầu như bài nào cũng đề cập đến những mảng hiện thực của cuộc sống đương đại, có sự liên hệ, kết nối giữa quá khứ - hiện tại và tương lai.

Nguyễn Lãm Thắng mổ xẻ nó dưới tư cách là người chứng kiến, nhìn thấy, cảm nhận, đau xót, cảm thông... nhiều khi anh ghê tởm và nguyền rủa nó. Chính những mảng tối đó nó ám ảnh anh, ám ảnh thơ anh, tâm hồn anh. Phan Ngọc đã rất có lý khi ông cho rằng: “Văn xuôi là tiếng nói của công việc, thơ là tiếng nói của thân phận con người”. Thơ Nguyễn Lãm Thắng đúng là tiếng nói của thân phận con người. Giữa cõi đời mênh mông, nhiều lúc anh cảm thấy chới với, anh tìm đến cái chết như là sự giải thoát, một sự giữ gìn tâm hồn, cốt cách, danh dự nhân phẩm theo cách của riêng anh. Những phận người bé mọn, những sự việc xảy trong cõi nhân sinh này cũng được anh phản ánh một cách thành thực như chính con tim anh mách bảo. Chúng ta dễ dàng tìm thấy trong thơ anh tần số lặp lại những từ nói về nỗi buồn, cái chết, bia mộ, nỗi đau, tiếng khóc, sự sống và cái chết, sự được mất, có-không, ánh sáng và bóng tối... Do vậy, nhiều bài ngôn từ cũng giản dị, dễ hiểu. Nhưng cũng có nhiều bài có sự so sánh, liên tưởng bất ngờ, thú vị; thậm chí có khi gây sự khó hiểu cho công chúng thưởng thức. Ta có thể liệt kê ra một số nhan đề bài thơ như thế: Ở một góc phố câm có cơn mưa điếc, Câu thơ bung gai giữa ngày không nắng, Tôi nhặt mình trong góc sân nhà thờ, Chiều mọc râu trên hoàng hôn cỏ, Đêm nở ra hoa ấm, Máu đang bùng lên ngọn lửa, Những khúc sông buồn trong cõi chết, trong bình minh đã có nhiều chiếc lá xanh rơi rụng, Bài hát buồn của bầy chim tổ rách... “Cùng với nó là nhiều câu thơ mang hình ảnh siêu thực: trong cuống họng của ánh sáng; đêm hoang mang hơn những huyền thoại đen như ứ máu; bóng đêm gợn lên thuỷ triều đen; tiếng hôn nhảy múa lăn tròn trên ngực em; câu thơ mỏng như cánh ve non trần truồng hơi thở... Câu chữ thơ anh đứt gãy, bị xô lệch trong những trận ngôn từ chắt lọc, vượt khỏi tầm kiểm soát của người đọc” (Hoàng Thuỵ Anh).

Hơn bất kỳ thể loại văn học nào khác, thơ tồn tại tính chủ quan của người nghệ sĩ nhiều nhất. Và chính cấp độ tầng bậc của các lớp nghĩa, ý nghĩa, tần số xuất hiện các thuộc tính đã làm nên nét riêng của từng nhà thơ. “:Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ một cách quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải xúc cảm và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức này” (Phan Ngọc). Và chính điều này đã làm cho thơ Nguyễn Lãm Thắng có nét dị biệt.

Phải là người mẫn cảm và có con mắt tinh đời như anh mới phát hiện ra những điều bất ổn ấy. Những điều chỉ có một con người thực sự yêu con người, yêu thương chính đồng loại, quan tâm đến sự sống này mới có thể nói lên thành thơ tha thiết, day dứt, đau đáu nỗi niềm thế cuộc và để lại những dư âm trong lòng bạn đọc.

Phú Yên, tháng 9/2011
Nguyễn Văn Hoà
Trường PT cấp 2-3 Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên

Nguồn: http://tapchivan.com/tin-...-that-nghiet-nga-283.html
25.00
Chia sẻ trên Facebook