輓妾范氏

哀哀尒范姬,
從我今七期。
須臾棄我去,
孑然無一遺。
雖然有成效,
茫茫不可期。
朋遠方懸樹,
當時莫知之。
何以一死後,
碧艸生新祠。
矧尒是婦人,
俯仰無所資。
奮身效巾慖,
拭目無鬚眉。
世道有如此,
尒心良不欺。
哭死非為生,
慷慨稱酒巵。
霏霏七夕雨,
和淚為新詩。

 

Vãn thiếp Phạm thị

Ai ai nhĩ Phạm ky (cơ),
Tòng ngã kim thất kỳ.
Tu du khí ngã khứ,
Kiết nhiên vô nhất di.
Tuy nhiên hữu thành hiệu,
Mang mang bất khả kỳ.
Bằng viễn phương huyền thụ,
Đương thì mạc tri chi.
Hà dĩ nhất tử hậu,
Bích thảo sinh tân tỳ (từ).
Thẩn nhĩ thị phụ nhân,
Phủ ngưỡng vô sở ti (tư).
Phấn thân hiệu cân quắc,
Thức mục vô tu my.
Thế đạo hữu như thử,
Nhĩ tâm lương bất khi.
Khốc tử phi vi sinh,
Khảng khái xứng tửu chi.
Phi phi thất tịch vũ,
Hoà lệ vi tân thi.

 

Dịch nghĩa

Thương ôi, nàng là con gái họ Phạm,
Theo ta đến nay đã bảy năm.
Bỗng chốc nàng bỏ ta mà đi,
Chẳng để lại một mụn con nào cả!
Dẫu rằng đã có lời thề ước mãi bên nhau,
Nhưng nay thì mờ mịt, biết lúc nào gặp lại!
Bạn thì xa, ta đang mong tin bạn,
Lúc đó nàng mất, có ai biết đó là đâu!
Sao mà sau khi nàng mất,
Trên nấm mồ xanh đã lập đền thờ mới rồi.
Huống chi nàng lại là phận đàn bà,
Việc phụng dưỡng cha mẹ không biết trông cậy vào ai.
Nàng đã sẵn sàng đem yếm khăn để kiếm tấm chồng,
Song giụi mắt cũng chẳng có ai đáng mặt mày râu.
Đường đời có những chuyện trớ trêu như vậy,
Song lòng nàng quả thực không lầm khi lấy ta.
Khóc người chết không phải là vì người sống!
Đau buồn ta dâng nâng chén rượu.
Mưa ngâu tháng bảy rơi lã chã,
Ta đem hoà với dòng lệ để viết bài thơ mới này.


Bài thơ này Nguyễn Khuyến khóc bà vợ thứ tư. Bà mất sớm và không có con. Không rõ vì lý do gì bà bỏ đi cho đến khi ông nhận được tin bà chết và được táng nơi đất khách.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Phụng

Khóc nàng họ Phạm xót thương
Bẩy năm một chiếu một giường có nhau
Bỏ ta bằn bặt đi đâu
Nỗi con chưa có thêm rầu lòng ta
Ngỡ là chung sống đến già
Hoá ra gặp lại hoạ là kiếp sau
Xa nàng tin bặt bấy lâu
Nỗi nàng vắn số thật đâu có ngờ
Đến khi xanh cỏ yên mồ
Hay tin mới lập bàn thờ thờ vong
Đành nàng phận gái chữ tòng
Khói hương chẳng biết cậy trông ai cùng
Yếm khăn đến tuổi lấy chồng
Mày râu giụi mắt vừa lòng chẳng ai
Chớ trêu sự thế đặt bày
Chẳng lầm duyên kiếp xum vầy cùng ta
Khóc nàng chẳng vị gần xa
Tay nâng chén rượu xót xa tấc lòng
Mưa ngâu tháng bẩy ròng ròng
Hoà cùng nước mắt viết dòng tân thi

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Khóc nàng Phạm xót thương
Bẩy năm cùng chiếu giường
Bỏ ta đi biền biệt
Con chưa có sầu vương
Ngỡ đến già chung sống
Hoá ra lại kiếp sau
Xa nàng tin bặt lâu
Đâu ngờ nàng vắn số
Đến khi xanh cỏ rầu
Hay tin lập bàn thờ
Đành phận gái chữ tòng
Khói hương ai cậy trông
Tuổi lấy chồng khăn yếm
Mày râu ai vừa lòng
Chớ trêu sự thế bày
Chẳng duyên kiếp xum vầy
Chẳng vị gần xa khóc
nâng chén xót tấc lòng
Ngâu tháng bẩy ròng ròng
Hoà nước mắt vài dòng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Thục Trang

Thương nàng con gái họ Phạm sao
Theo ta giờ đã bảy năm rồi
Bỗng chốc nàng bỏ ta ở lại
Cũng chẳng cho ta mụn con côi
Dẫu rằng son sắt lời thề ước
Mờ mịt lúc nào gặp lại nhau
Bạn xa ta ngóng chờ tin bạn
Nàng mất người đời biết là đâu
Cớ sao sau ngày nàng giã biệt
Đền thờ mới lập, mảng mồ xanh
Duyên phận đàn bà nàng một kiếp
Cậy ai phụng dưỡng bậc sinh thành?
Sẵn mảnh yếm khăn đổi tấm chồng
Đỏ mắt mày râu kiếm chẳng không
Đường đời trêu trớ sao đủ chuyện
Lấy ta, nàng chẳng lấy lầm chồng
Kẻ sống khóc buồn người bạc mệnh
Tay nâng chén rượu nghẹn niềm đau
Mưa ngâu tháng bảy rơi lã chã
Thơ mới viết nên bởi lệ sầu!

MK1791
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời