蟬師

人謂先生愛我兒,
愛兒之母有誰知。
架橋舊句非無謂,
攬鏡前人只自悲。
只恐世間無寡婦,
莫言天下欠蟬師。
愛師欲為愛兒教,
校得兒成母又癡。

 

Thiền sư

Nhân vị tiên sinh ái ngã nhi,
Ái nhi chi mẫu hữu thuỳ tri.
Giá kiều cựu cú phi vô vị,
Lãm kính tiền nhân chỉ tự bi.
Chỉ khủng thế gian vô quả phụ,
Mạc ngôn thiên hạ khiếm thiền sư.
Ái sư dục vị ái nhi giáo,
Giáo đắc nhi thành mẫu hựu si.

 

Dịch nghĩa

Người ta bảo thày đồ yêu con ta
Nhưng ai biết đâu là thày lại yêu mẹ của con?
Câu hát “bắc cầu” cũ không phải là không có ý nghĩa
Nhân duyên “cầm gương” trước chỉ tự gây nên đau buồn
Chỉ sợ thế gian không có đàn bà goá
Đừng nói thiên hạ thiếu thày đồ ve
Yêu thày là vì muốn thày dạy cho đứa con yêu của mình
Biết đâu rằng dạy được con khôn thì mẹ lại hoá ngây


Chữ “thiền” trong “thiền sư” được Nguyễn Khuyến chơi chữ, dùng chữ 蟬 với bộ trùng có nghĩa là con ve, đồng âm với “ve gái”.

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Khuyến

Người bảo rằng thầy yêu cháu đây,
Thầy yêu mẹ cháu có ai hay!
Bắc cầu, câu cũ không hờ hững,
Cầm kính, tình xưa vẫn đắng cay.
Ở goá thế gian nào mấy mụ?
Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy?
Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy,
Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.


Bản dịch của chính tác giả.
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Người bảo thầy yêu cháu đây,
Thầy yêu mẹ cháu ai hay đâu nào.
”Bắc cầu, hay chữ” ca dao,
”Vô tình bên kính”, câu sao đáng buồn.
Thế gian mấy mụ nằm suông?
Đi ve thiên hạ bao tuồng thầy nay?
Yêu thầy cũng muốn học thầy,
Nên rồi mẹ cháu lại ngây luôn thầy.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời