吾縣老山

舉目江山興自豪,
油然神往不知勞。
此中佳興正堪賞,
一片塵心卻未淘。
離索幾年愁獨坐,
徘徊舊路畏登高。
至今此興能如願,
為有裴君訂贈袍。

 

Ngô huyện Lão sơn

Cử mục giang sơn hứng tự hào,
Du nhiên thần vãng bất tri lao.
Thử trung giai hứng chính kham thưởng,
Nhất phiến trần tâm khước vị đào.
Ly tác kỷ niên sầu độc toạ,
Bồi hồi cựu lộ uý đăng cao.
Chí kim thử hứng năng như nguyện,
Vị hữu Bùi quân đính tặng bào.

 

Dịch nghĩa

Ngước mắt nhìn non sông tự thấy hào hứng,
Tinh thần phơi phới lên chơi chẳng biết mệt.
Trong đó hứng thú tốt lành đáng được thưởng thức,
Chốc lát lòng trần chưa rửa sạch được.
Mấy năm nay xa cách bạn bè riêng buồn ngồi một mình,
Lại chỉ loanh quanh trên con đường cũ, ngại lên cao.
Ngày nay hứng thú ấy được thoả mãn,
Là vì có bác Bùi hứa hẹn cho áo.


Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Lời tự:
吾平日未嘗一登,春前閣老阮翁約某同往,因以事牽不果,此心殊鬱鬱也。歸而訪之,則山上惟有一石,方如棋盤,號曰仙棋,今牧童多以樗蒲為戲。西北有一井號曰仙井,相傳深至江底,至今漸塞。此外別無奇花異卉,亦無燠館涼庵。時方盛夏,是以不敢再訂。昨來訪翁,適見裴使君話謂,所得新樣洋布,厚可以卻寒,疏可以迎涼,彩不混列,示有文也,曠不露体,示有禮也,將製為二服以贈吾二人。某聞之曰:『快哉斯山亦可以自適矣』。因賦詩以呈。

Ngô bình nhật vị thường nhất đăng, xuân tiền Các lão Nguyễn ông ước dư đồng vãng, nhân dĩ sụ khiên bất quả, thử tôm thù uất uất dã. Quy nhi phỏng chi, tắc sơn thượng duy hữu nhất thạch, phương như kỳ bàn, hiệu viết tiên kỳ, kim mục đồng đa dĩ hu bồ vi hí. Tây bắc hữu nhất tỉnh, hiệu viết tiên tỉnh, tưởng truyền thâm chí giang để, chí kim tiệm tắc. Thử ngoại biệt vô kỳ hoa dị huỷ, diệc vô áo quán lương am. Thời phương thịnh hạ, thị dĩ bất cảm tái đính. Tạc lai phỏng ông, thích kiến Bùi sứ quân thoại vị: sở đắc tân dạng Dương bố, hậu khả dĩ khước hàn, sơ khả dĩ nghinh lương, thái bất hỗn liệt, thị hữu văn dã, khoáng bất lộ thể, thị hữu lễ dã; tương chế vi nhị phục dĩ tặng ngô nhị nhân. Mỗ văn chi viết: “Khoái tai tư y, đăng tư sơn diệc khả dĩ tự thích hĩ.” Nhân phú thi dĩ trình.

(Trước nay ta chưa lên núi lần nào, mùa xuân vừa rồi, ông Các họ Nguyễn hẹn ta cùng đi thăm núi, rồi nhân bận việc không đi được, vẫn áy náy trong lòng. Khi về hỏi thăm, thì ra trên núi ấy chỉ có một hòn đá vuông như bàn cờ, gọi là bàn cờ tiên, ngày nay trẻ chăn trâu thường lấy đó làm chỗ chơi xúc xắc. Phía tây bắc có cái giếng gọi là giếng tiên, tương truyền sâu tới đáy sông, nay đã bị lấp dần. Ngoài ra không có một thứ hoa boa thơm cỏ lạ nào, cũng không có am quán để ngồi ấm hay hóng mát gì cả. Lúc đó đang giữa mùa hè cho nên không dám hẹn lại một ngày khác. Bữa nọ đến thăm ông, chợt gặp Bùi sứ quân nói chuyện có kiếm được một thứ vải Tây kiểu mới, dày, có thể chống rét, thưa, có thể hóng mát, hoa dệt thành hàng rành rọt, đó là có văn; thoáng mát mà không lộ liễu, đó là có lễ; ông sắp đem may làm hai cái áo để tặng hai chúng tôi. Tôi nghe chuyện liền nói: “Có áo như thế thật là khoái! Người mặc để lên núi này có thể thảnh thơi tự thoả được.” Nhân làm thơ trình.)
Núi An Lão ở thôn An Lão, xã Quế Sơn, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, còn có tên là Quế Sơn.

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
3. Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Khuyến

Liếc mắt non xanh hứng chợt đầy,
Hồn chơi phơi phới đã như bay.
Đìu hiu cảnh quạnh dừng nên thưởng,
Tí tẻo lòng trần vẫn chửa khuây.
Người cũ xa xăm thương bóng chiếc,
Bước xưa ngất ngưởng ngại chân giầy.
Cữ này sắm sửa đi chơi được,
Quan Án người toan gửi áo đây.


Bản dịch của chính tác giả, chép trong Quế Sơn thi tập (A.469).

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ngước nhìn thấy hứng non sông đầy,
Không mệt tinh thần phơi phới ngay.
Hứng thú tốt lành đang thưởng thức,
Lòng trần chốc lát khó mà khuây.
Cách xa bạn hữu ngồi riêng bóng,
Đường cũ loanh quanh, ngại gối này.
Thú ấy hôm nay được mãn nguyện,
Bác Bùi cho áo hẹn gì đây.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời