京底初發

惆悵今朝我獨行,
殘雲一抹遠山青。
秋多暑氣禾先熟,
雨濕沙田未可耕。
野杜不知何處植,
寒禽猶學去年聲。
斜陽回首雲煙外,
多少相知在洛城。

 

Kinh để sơ phát

Trù trướng kim triêu ngã độc hành,
Tàn vân nhất mạt viễn sơn thanh.
Thu đa thử khí hoà tiên thục,
Vũ thấp sa điền vị khả canh.
Dã đỗ bất tri hà xứ thực,
Hàn cầm do học khứ niên thanh.
Tà dương hồi thủ vân yên ngoại,
Đa thiểu tương tri tại Lạc thành.

 

Dịch nghĩa

Sớm mai một mình buồn bã ta ra đi,
Áng mây tàn vừa cuốn thì rặng núi xa đã hiện ra xanh xanh.
Mùa thu này nắng chiều, lúa đồng chín sớm,
Mưa ẩm ruộng cát vẫn chưa thể cày.
Chim đỗ quyên cũng chưa biết nơi nào trồng cấy được,
Con chim mùa lạnh còn học tiếng hót từ năm ngoái.
Chiều tà ngoái nhìn lại sau đám mây khói,
Bạn tương tri ở đô thành còn lại bao nhiêu người?


Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển thập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Phụng

Đường dài ngại bước xa xôi
Xanh lam đầu núi cuối trời mây giăng
Nắng thu đồng lúa sớm vàng
Mưa chưa đủ nước đồng hoang khó cày
Chưa vào mùa đỗ mùa khoai
Chim về trốn lạnh lạc loài xôn xao
Sậy lau mây khói dạt dào
Kinh thành bạn cũ còn bao nhiêu người

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đường dài ngại bước một mình trưa,
Mây xanh đầu núi cuối trời thưa.
Nắng thu sớm vàng trên đồng lúa,
Mưa không thấm đất khó cày bừa.
Khoai đỗ vụ mùa chưa kịp đến,
Trốn lạnh chim về lạc kêu hoài.
Quay đầu trông khói mây bóng xế,
Bạn cũ kinh thành còn bao người.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời