凶年其五

旱甚冬前穀不收,
凄風今夏冷如秋。
墦間剩粥曾餐未,
甕底留醅肯醉無。
國運若為家運厄,
大人應作豕人呼。
莫嘆尋常饑餓甚,
時窮方是見真吾。

 

Hung niên kỳ 5

Hạn thậm đông tiền cốc bất thu,
Thê phong kim hạ lãnh như thu.
Phiền gian thặng chúc tằng xan vị,
Úng để lưu phôi khẳng tuý vô.
Quốc vận nhược vi gia vận ách,
Đại nhân ưng tác thỉ nhân hô.
Mạc thán tầm thường cơ ngã thậm,
Thì cùng phương thị kiến chân ngô.

 

Dịch nghĩa

Vì đại hạn vụ đông trước nên mất mùa,
Vụ hạ này lại gió rét, lạnh như mùa thu.
Cháo thừa ở bãi tha ma đã từng ăn chưa?
Rượu còn lại ở đáy hũ có thèm uống không?
Ví phỏng vận nước cũng bị tai ách như vận nhà,
Thì những hạng “ông lớn” đều đáng gọi là “ông lợn” cả.
Đói kém chỉ là việc tầm thường, đừng nên than vãn lắm,
Chỉ đến lúc cùng mới thấy được cái bản sắc của ta.


Rút từ Quế Sơn tam nguyên thi tập (A.3160).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Tú

Mùa qua đại hạn còn đâu?
Chiêm này gió lạnh khác nào thu xưa!
Cháo thừa trốc mả ăn chưa?
Rượu thừa đáy hũ say sưa được nào?
Vận nhà vận nước ngang nhau,
“Ông lớn”, “ông lơn” chung vào một tên.
Đói no chớ vội than phiền,
Gieo neo mới thấy vẹn tuyền cái “ta”!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Trước đông đại hạn mất mùa rồi
Lạnh lẽo hè nầy gió tựa thu
Rượu cặn đáy vò không dễ xỉn
Cháo thừa trong chạn khó ăn no
Việc nhà việc nước cùng chung ách
Ông lớn ông lơn thảy một lò
No đói chuyện thường thôi oán thán
Lúc cùng chân diện hiện ra mô

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Trước đông đại hạn mất mùa,
Gói hè lạnh lẽo chẳng thua thu nào.
Đáy vò rượu cặn say nhào,
Cháo thừa trong chạn khó nào ăn no.
Việc nhà việc nước chung lo,
”Ông lớn, ông lơn” một lò mà thôi.
Lẽ thường oán thán đói rồi,
Lúc cùng hiện thật cái tôi ra ngoài.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời