和答黃參知贈回原韻

再出何心博一官,
矧勞二豎十年間。
少陵離亂頻吟苦,
彭澤歸來久愛閒。
老眼幾回驚見海,
餘生此日好還山。
濟時憑仗群公力,
無事柴門永自關。

 

Hoạ đáp Hoàng tham tri tặng hồi nguyên vận

Tái xuất hà tâm bác nhất quan,
Thẩn lao nhị thụ thập niên gian.
Thiếu Lăng ly loạn tần ngâm khổ,
Bành Trạch quy lai cửu ái nhàn.
Lão nhãn kỷ hồi kinh kiến hải,
Dư sinh thử nhật hảo hoàn san.
Tế thời bằng trượng quần công lực,
Vô sự sài môn vĩnh tự quan.

 

Dịch nghĩa

Lại ra lần này, lòng nào còn mong kiếm một chức quan,
Huống chi trong mười năm đã hai đợt lặn lội quan trường.
Thiếu Lăng đã làm nhiều thơ tả nỗi khổ loạn ly,
Bành Trạch từ lâu thích cảnh nhàn mới trở về vườn ruộng.
Con mắt già bao lần kinh hãi nhìn cuộc bể dâu,
Kiếp sống thừa bây giờ chỉ muốn về chốn núi rừng.
Cứu vãn thời thế chỉ còn trông mong chư ông góp sức,
Được vô sự, tôi sẽ mãi đóng chặt cửa sài.


Hoàng tham tri chưa rõ là ai.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Phụng

Lại ra lần nữa làm quan
Thân này hai bận mười năm đủ rồi
Ngâm thơ Đỗ Phủ thương đời
Noi gương Bành Trạch yên vui cảnh vườn
Mắt già dâu biển ngại ngần
Sống thừa tìm chốn gửi thân yên lòng
Giúp đời nhờ sức chư ông
Cửa sài đóng chặt nhưng mong bấy rầy

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Lại ra lần nữa phải làm quan,
Mười năm hai bận thân này đủ.
Ngâm thơ Đỗ Phủ thương đời trọc,
Noi gương Bành Trạch yên cảnh nhàn.
Mắt già dâu biển bao ngần ngại,
Tìm chốn gửi thân sống bằng an.
Giúp đời chư ông xin nhờ sức,
Đóng chặt cửa sài mong bạn vàng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời