夜山廟

爭戰何年局已殘,
樓臺空在半山間。
螺城興廢機前定,
龜爪存忘事不關。
梅驛客來飛雀狎,
松林雨過暮鴉寒。
霸王事業千秋後,
煙樹蒼茫一夜山。

 

Dạ sơn miếu

Tranh chiến hà niên cục dĩ tàn,
Lâu đài không tại bán sơn gian.
Loa thành hưng phế cơ tiền định,
Quy trảo tồn vong sự bất quan.
Mai dịch khách lai phi tước hiệp,
Tùng lâm vũ quá mộ nha hàn.
Bá vương sự nghiệp thiên thu hậu,
Yên thụ thương mang nhất Dạ san.

 

Dịch nghĩa

Cuộc chiến năm nào đã tàn lâu rồi
Lâu đài còn trơ lại trên lưng chừng núi
Sự hưng phế của Loa Thành do cơ định trước
Cái móng rùa còn hay mất chẳng liên quan gì
Khách qua trạm mai dịch đàn công bay
Mưa tạnh rừng thông tiếng quạ kêu lạnh
Sự nghiệp bá vương sau nghìn năm
Chỉ thấy trên núi Dại Sơn khói cây man mác


Rút từ Hải Vân am thi tập (A.1515).

Núi Dạ tức là núi Mộ Dạ, thuộc tỉnh Nghệ An, cũng gọi là núi Cuông (tiếng Nghệ An cuông có nghĩa là công). Tục truyền ở nơi này ngày xưa có nhiều công nên gọi thế. Trên núi có đền thờ An Dương Vương nhà Thục, cũng gọi là Đền Cuông.

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Tạo

Chiến tranh tàn cuộc tự năm nào?
Lầu gác còn trơ lưng núi cao.
Thành ốc thịnh, suy cơ định trước,
Móng Rùa còn mất chuyện không đâu.
Mai đưa khách lạ, đàn công dạn,
Tùng gội mưa hôm, cái quạ rầu.
Vương bá ngàn thu đâu sự nghiệp?
Khói cây non Dạ một rừng sâu.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Văn Xương

Tôi rất thích bài thơ này ,tập tọngdịch thử gửi tới diễn đàn cho vui nhé:
      Chiến tranh tàn cục năm nao
   Trơ trơ trên đỉnh đồi cao một lầu.
      Phận Loa thành định đã lâu,
   Móng rùa còn mất hay đâu mà bàn?
      Đàn công dạn khách,mai ngàn,
   Rừng thông mưa rét chiều tàn quạ kêu.
      Ngàn năm vương bá đã nhiêu,
   Dạ Sơn chỉ thấy tiêu điều khói bay.

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Tàn cuộc chiến tranh tự thuở nào
Gác lầu trơ trọi giữa non cao
Móng rùa còn mất bàn chi nữa
Thành quách hưng vong định trước sao
Khách lạ trạm mai, công múa bỡn
Mưa chiều rừng thắm quạ kêu rầu
Ngàn thu sự nghiệp đâu vương bá
Núi Dạ cây sương mịt mịt sầu

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Tàn cuộc giao tranh tự thuở nào?
Lầu gác còn trơ đồi núi cao.
Suy thịnh Loa thành trời định trước,
Mất còn Rùa móng việc không sao.
Mai đưa khách lạ, công đùa bỡn,
Tùng gội mưa chiều, tiếng quạ sầu.
Ngàn thuở bá vương sau sự nghiệp?
Non Dạ khói cây mờ mịt sâu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

'Tước' 雀 sao lại là chim công?

Tôi không thấy từ điển nào chỉ ra chữ 雀 là chim công mà chỉ thấy đó là chim sẻ, hay 'ma tước'.
Điều này rất hợp với ngữ cảnh trong câu: khi khách đến Mai Dịch, thì lũ chim sẻ sà xuống vây lấy khách ( phi= bay, hiệp = tụ hội, bu lại), chắc là đã quen được khách cho thức ăn, một cảnh tượng rất thường gặp ở những điểm công cộng.
Thật khó để tưởng tượng ra cái cảnh ở một nơi đông người mà lại có cả đàn công bay nhảy, nếu đó không phải là màn trình diễn xiếc thú!

Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Chinh chiến năm nào đã tàn lâu
Lưng chừng dốc núi một hoang lầu
Thành Loa hưng phế huyền cơ đã...
"Móng Cụ" mất còn đế nghiệp đâu...
Mưa tạnh rừng thông diều quạ lạnh
Khách về Mai Dịch sẻ câu bâu
Cơ đồ vương bá ngàn năm đó
Chỉ thấy sương cây núi Dạ sầu

Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời