讀羅岸杜庭元辭北幡書

讀過君書萬頃凌,
不知何以使人憎?
妍媸臧否非吾定,
憂樂榮枯自古曾。
尚有人心犀一點,
可無世局淚三昇。
病夫淺見只如此,
未果東溟有大鵬。

 

Độc La Ngạn Đỗ đình nguyên từ Bắc phiên thư

Độc quá quân thư vạn khoảnh lăng,
Bất tri hà dĩ sử nhân tăng?
Nghiên, xuy, tang, bĩ, phi ngô định,
Ưu, lạc, vinh, khô, tự cổ tằng.
Thượng hữu nhân tâm tê nhất điểm,
Khả vô thế cục lệ tam thăng.
Bệnh phu thiển kiến chỉ như thử,
Vị quả Đông minh hữu đại bằng.

 

Dịch nghĩa

Đọc xong bức thư của bác, lòng như có muôn vạn đợt sóng cuộn,
Chẳng biết tại sao lại khiến cho người ta ghét.
Tốt, xấu, hay, dở, chẳng phải do ta định,
Lo, vui, tươi, khô, từ xưa đã từng như thế.
Lòng người còn có một điểm thông suốt như sừng con tê,
Há không nhỏ ba thưng nước mắt đối với thế cuộc.
Ý kiến nông cạn của kẻ ốm yếu này chỉ như thế,
Chưa hẳn là biển Đông có chim đại bằng.


Lời tự:
安定制薹回朝,忝往謁見,因示羅岸杜庭元辭北藩書,再三讀玩,不覺喜躍曰:『吾道其未窮耶?民彝其未泯耶?因繆為評閱,再戲吟一律。良久吟思:杜君之文果為是耶?吾之平閱果未定耶?衛律之徙蘇子卿,夢炎之囚文宋瑞,往事誠可畏也。雖然天地之經,君臣之義,父師之所授,子弟之所學,其可忽乎?』輒具以白兄翁正焉。

An Định chế đài hồi triều, thiểm vãng yết kiến, nhân thị La Ngạn Đỗ đình nguyên từ Bắc phiên thư, tái tam độc ngoạn, bất giác hỉ dược viết. “Ngô đạo kỳ vị cùng da? Dân di kỳ vị dẫn da?” Nhân mậu vi bình duyệt, tái hý ngâm nhất luật. Lương cửu ngâm tư: “Đỗ quân chi văn, quả vi thị da? Ngô chi bình duyệt, quả vi định da? Vệ Luật chi tỉ Tô Tử Khanh, Mộng Viêm chi tù Văn Tống Thuỵ, vãng sự thành khả uý dã. Tuy nhiên, thiên địa chi kinh, quân thần chi nghĩa, phụ sư chi sở thụ, tử đệ chi sở học, kỳ khả hốt hồ?” Triếp cụ dĩ bạch, huynh ông chính yên.

(Tổng đốc An Định (Vũ Báo) về triều, tôi đến yết kiến, nhân đó ông cho xem bức thư của Đỗ đình nguyên, người làng La Ngạn, từ chối chức bố chính Bắc Ninh. Tôi đọc đi đọc lại hai ba lần, bất ngờ mừng quá mà thốt ra rằng: “Đạo ta có lẽ chưa cùng chăng? Luân thường có lẽ chưa mất chăng?” Nhân lạm bình duyệt, lại đùa ngâm một bài thơ. Giờ lâu ngẫm nghĩ: “Văn của bác Đỗ quả là đúng chăng? Lời bình duyệt của ta quả là chuẩn xác chăng? Vệ Luật đày Tô Tử Khanh, Mộng Viêm cầm tù Văn Tống Thuỵ, việc trước quả thật đáng sợ! Tuy nhiên, đạo trời đất, nghĩa vua tôi, bậc cha, bậc thầy đã truyền, con em, học trò đã học, lẽ nào có thể coi thường được chăng?” Bèn chép ra đệ trình, xin huynh ông phủ chính cho.)
Đình nguyên họ Đỗ tức Đỗ Huy Liệu, người làng La Ngạn, huyện Đại An, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam), đỗ đình nguyên khoa Kỷ Mão (1879), đời Tự Đức, làm đến chức Hồng Lô thiếu khanh, tham biện nội các. Khi Pháp xâm lược, ông từ chức về nhà. Pháp bổ ông làm chức bố chính Bắc Ninh, ông gửi thư từ chối.

Nguồn:
1. Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, 1971 (tái bản 1979)
2. Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, Nguyễn Văn Huyền chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1984
3. Thi hào Nguyễn Khuyến: đời và thơ, Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Giáo dục, 1994
4. Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, Trần Văn Nhĩ, NXB Văn nghệ, 2005

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Tú

Thư đọc, như ngàn lớp sóng dâng,
Thế mà người ghét biết đâu chừng?
Hay, hèn, tốt, xấu, ta chưa quyết,
Tươi, héo, buồn, vui trước đã từng.
Còn có khiếu thiêng, tâm một điểm,
Khôn cầm cuộc thế, lệ ba thưng.
Già này chỉ biết qua như thế,
Chưa chắc vùng Đông có đại bằng.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Đọc xong thư bác, sóng dâng lòng,
Người ghét vì sao, chẳng biết chừng.
Tốt, xấu, dở, hay, đâu ta định,
Lo, vui, tươi, héo, trước đã từng.
Lòng người, sừng tê đều thông suốt.
Khó cầm thế cuộc lệ ba thưng.
Ý kiến kẻ hèn này thế đó,
Biển Đông chưa hẳn có đại bàng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời